Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

chuyện tình Bé Sáu “Te”



"...

tui tên Bé Sáu, không phải tên thứ đâu, tên thiệt đó, tên giấy luôn đó, Trần Văn Bé Sáu, còn gọi là Bé Sáu “te”, “te” là một động tác trong nhảy đầm, động tác kết thúc, bị tui mê nhảy đầm lắm, mê từ trẻ tới giờ, năm nay tui sáu lăm rồi, sáu lăm mà chú thấy tui trẻ hôn, nhờ nhảy đầm đó, giờ đêm nào cũng cũng phải nhảy đầm ít nhứt hai tiếng mới ngủ ngon nha. Quê tui dưới Long Hồ, ba má tui sanh tui ở dưới, dưới quê mà, làm biếng đặt tên con nên kêu Bé cho nó gọn, Bé Hai, Bé Ba, Bé Tư… tới Bé Mười Hai thì hết đạn, trai thì thêm chữ Văn, gái thì thêm chữ Thị, vậy luôn, mà tui thấy tên vậy cũng êm, đúng hông chú, quá êm luôn. Tui biết vậy thôi, chớ Long Hồ tui cũng ít về, chủ yếu có đám giỗ gì lớn dữ lắm mới về, còn nhỏ lớn tui sống ở Sài Gòn, chỉ biết Sài Gòn thôi.

nói lại chuyện mê nhảy đầm, tui nói thiệt lòng, cả đời tui chỉ mê có duy nhứt thứ đó, cơm không cần no, áo không cần đẹp, chớ mà nhảy đầm là phải có. Trước bảy lăm tôi có học nhiều thầy, rồi cũng đứng lớp nữa, sau bảy lăm thì lấy vợ, rồi kinh tế khó khăn nên có gián đoạn một thời gian, mà thời đó nhảy đầm còn bị cấm, nên chủ yếu hai vợ chồng vô phòng đóng cửa, mở cái băng nhạc cũ, tiếng nhỏ thiệt nhỏ, rồi dìu nhau mấy bản êm êm cho đỡ buồn, đỡ lụt nghề. Tui với bà xã cũng quen nhau trên vũ trường, rồi mê nhau quá, nhảy riết nhảy vô đám cưới luôn. Bả nhảy đẹp, phải nói là nhứt xứ nam kỳ nầy, tụi Mỹ mà còn mê, vậy mà hổng hiểu sao bả mê tui mới chết chứ. Hai đứa làm đàm cưới có đúng năm mâm, mười bốn khách còn nhiêu họ hàng cô bác thôi. Bả lớn hơn tui hai tuổi, cao hơn chút đỉnh, người đẹp người đẹp tánh quá, hiếm hoi trên đời đó chú em.

mà giờ ít người mê nhảy đầm, ờ, giờ kêu bằng khiêu vũ đó hén, chớ thời tui là hầu như ai cũng mê. Đó là thứ văn minh nhứt mà người tây âu họ phát minh ra, phương đông mình hổng có, mà có cũng chỉ là nhảy cà na xí muội, nhảy đình nhảy đám gì chớ hổng giống kiểu nhảy đầm phương tây. Nhảy đầm, đó là âm nhạc, là thể thao, là múa, là tôn giáo, là tình yêu… là thứ lễ hội thăng hoa nhứt của đờn ông và đờn bà, với nhau. Nhảy đầm là thứ duy nhứt theo tui, có thể kết nối được thể xác với đầy đủ các giác quan và tâm hồn con người, tâm hồn đẹp trong một cơ thể đẹp. Tui chưa thấy ai mê nhảy đầm mà xấu tánh, hoặc có cơ thể xấu hết, tui thiệt. Thời đó bạn bè chỉ nhau, chỉ cần vài đứa tụ họp với cái máy hát là chơi được, là chìm đắm trong các điệu nhảy, quên bom quên đạn, quên thù quên hận, là thấy cuộc đời thiệt đẹp, thiệt du dương và bay bổng. Sau này cấm cái cụt hứng, anh em bỏ hết trơn, chỉ còn tui vẫn lui cui giữ nghề, rồi dạy nghề. Giờ dạy thì tùy, điệu khó năm trăm, điệu dễ ba trăm, mà có người dạy cả tháng mới rành một điệu, dạy bị mình mê, mình muốn nhiều người biết thôi, chớ tiền kiếm được không đủ tiền café nữa chú à.

...

vợ trước tui hả, chú hỏi bà hồi nãy tui kể đó hả, bả chết rồi, còn bà giờ thì cũng vậy, cũng mê nhảy đầm, cũng đẹp người đẹp tánh. Mà chú tin không, bà vợ trước đi hỏi cưới bà vợ này cho tui đó, tin nổi không. Chuyện là vầy, hồi đó, hồi năm tám mươi, nhà có chiếc xe máy honda, tui với bà vợ đầu, kêu bà Hai đó, mới đi mua chỗ này bán chỗ kia kiếm sống, nói đại theo chữ hồi đó là đi buôn. Tui thì hổng thích lắm mà bị khó quá, rồi bà Hai bả buôn bán cũng khéo, cũng có dư đồng ra đồng vô, nên thôi đi đại.

bữa đó gấp quá, tui chở bà Hai mới bị té, bả bị cái xe sau nó trờ tới, cán qua cái cái giò, đem vô bịnh viện cưa mất từ trên đầu gối trở xuống. Thương bà Hai quá nên tui mới để bả ở nhà, rồi một mình ra chạy xe ôm, kiếm tiền thuốc thang cho bả. Lúc đó tui còn không dám mở nhạc chớ đừng nói là đi nhảy đầm, chú biết rồi đó, dân nhảy đầm mà bị cụt giò thì thà chết còn sướng hơn. Mà lúc đó tụi tui chưa có con, rồi sau này cũng hổng có với Bà Hai.

...
sau đó tui có xuống Rạch Giá mần ăn, ghiền quá nên cũng có mở lớp dạy nhảy đầm cho mấy chị em trong xóm, cũng mở lén lút sau nhà của một bà chị nọ thôi. Trong đám học trò có cô đó, tên cô Ba, cô Ba sáng dạ học mau lắm, nhảy cũng đẹp mà tánh tình hiền lành lắm, lúc đó cô Ba đâu chừng mười tám mười chín tuổi. Bữa đó Bà Hai mới kêu tui chở tới chỗ nhảy đầm, kêu cho bả ngồi coi đỡ buồn, chiều ý bả nên tui cũng chở tới. Bà Hai ngồi coi một đỗi, cười tươi lắm, còn nhắc mấy cô, nói cô này lắc hông sao cho khéo, cô kia hất cái đầu gọn quá hén… nói chung là thấy bả vui tui cũng mừng.

tối về, ngồi ăn cơm bà Hai mới hỏi, mình à, mình thấy cô Ba sao? Mình có ưng cổ hông? Tui nghe vậy chết đứng, ráng vớt vát dỗ dành, nói vợ chồng mà mình hỏi kỳ vậy, tui chỉ thương mình thôi, mình đừng nói vậy tội tui, mình. Bà Hai cười lớn, mình thương tui tui biết, nhưng mà vợ chồng phải đồng điệu, giờ tui không khiêu vũ được với mình, tui cũng hổng chắc sanh đẻ được nữa, tui què chưn, không phụng dưỡng được mình mà còn phiền mình chăm sóc, coi như bổn phận làm vợ tui hổng được chút nào. Giờ tui tính thiệt vầy, nếu mình ưng cô Ba đó, tui đi hỏi cưới cổ cho mình, được không, tui hứa không ghen tuông chi hết, chị em hòa thuận, nếu tui không giữ lời mình cứ đuổi tui đi.

tui nghe tới đó tui khóc luôn chú em, không ngờ vợ tui tốt tánh quá, nghĩ cũng thương vợ mà cũng thương mình, tui nhứt quyết hổng chịu. Vậy mà bà Hai bả thủ thỉ riết, rồi bả tự kêu cô Ba ra nói chuyện sao đó, cô Ba cũng ưng, vậy là đám cưới luôn, đãi ở Rạch Giá. Đám cưới vui lắm, nhảy đầm tưng bừng luôn, ba má tui không dự, chỉ có bà Hai với mấy anh chị tui làm đại diện đàng trai, nhà cô Ba cũng không có cha mẹ, do cô Ba cổ mồ côi, cũng chỉ có mấy anh chị đi họ.

...
sau bữa đó thì tụi tui quay lên Sài Gòn sống, bà Hai giữ lời, không nặng nhẹ cô Ba câu nào. Chú đừng cười, hồi xưa đàn ông hai vợ là chuyện thường, nhưng thường người ta giàu có mới hai ba vợ, tui nghèo mà cũng hai vợ, mà bà nào cũng đẹp mới ác chớ. Rồi cô Ba sanh liền liền, bốn đứa, ba gái một trai. Hai đứa gái giờ theo chồng qua Mỹ, một đứa lấy chồng ở Úc, còn thằng út giờ ở với tụi tui.

tiếc cái là tụi nhỏ giờ hổng có đứa nào mê nhảy đầm như cha mẹ nó. Bà Hai sống với tụi tui thêm mười mấy năm, lúc đám nhỏ lơn lớn chút thì bả chết, bịnh chết thôi. Mấy đứa nhỏ kêu bằng Má Hai đó, thương lắm, mấy đứa con gái tui đó, má Ba tụi nó nói nhiều khi nó còn cãi chớ má Hai nó kêu cái là răm rắp, thấy tụi nhỏ thương má Hai nó tui cũng mừng. Nhiều bữa ngồi riêng với bả, tui hỏi, mình có vui không? Bà cười, vui chứ mình, vui lắm, mình vui là tui vui nhứt. Đám ma của bà Hai lớn lắm, đám con tui khóc, hai vợ chồng tui khóc, anh chị em tui về khóc, hàng xóm láng giềng cũng xúm khóc, khóc động trời luôn.

...
giờ đám con tui ở nước ngoài, nhiều lúc Tết nó cũng hổng về, nhưng mà đám giỗ bà Hai là về đủ nha chú, về nấu bữa cơm, gia đình con cháu ngồi xúm xít, quây quần với nhau, nghĩ chắc bà Hai ở trển bả thấy cảnh nầy chắc bả vui, bả vui thì tui mới vui. Bởi tui nói, chưa thấy ai mê nhảy đầm mà xấu tánh, tui nói phải hông chú?

...'


Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014

"chị đĩ"

(note này cấm trẻ em dưới 18 nha)

"chị đĩ"

nó tên Hiền, tên như người, nó thiệt hiền queo, chuyện gi cũng cười. Nó thua mình ba tuổi, có cái xưởng làm đồ gỗ mỹ nghệ, chuyên làm ba cái rễ cây, gốc tre thành tượng Thần Tài, Ông Thọ, bán cũng lai rai, chủ yếu bỏ cho mấy cửa hàng.

nhân có khách đặt hàng nên kiếm nó, nghe có mối làm ăn là nó mừng lắm, nó nói để em chở anh xuống xưởng em chơi, anh coi mẫu mã được thì anh em mình hợp tác nha. Đi luôn, xa mù trời, xuống tuốt dưới Bình Hưng, loay hoay chút nó biểu vô nhà nó, ngay phía sau đó, uống nước. Nhà cấp bốn nhỏ, cũ nhưng xây cất khang trang, tới gặp con gái nó chuẩn bị đi học, thưa ba thưa bác mới tới, thấy con gái nó lớn quá, mới hỏi con nay nhiêu tuổi, con nhỏ thưa mười chín, giựt mình quay qua thằng Hiền, hổng lẽ mười bốn mười lăm tuổi mày lấy vợ hả, thằng Hiền chỉ cười.

lát ngồi chút , vãn chuyện, thằng Hiền mới nói, đó là con riêng vợ em, vợ em nó không may chết sớm, nên cha con nuôi nhau, cha dượng con ghẻ nhưng bị thương nó còn nhỏ, lúc má nó chết nó mới tám tuổi, má nó trối lại cho em, biểu em ráng nuôi nó đàng hoàng. Vợ em nó lớn hơn em tới ba tuổi, là bằng tuổi anh Hai đó, có con nhỏ này rồi hai đưa em mới gá vô. Cha ruột con nhỏ hả, em cũng hổng rành,  má nó cũng hổng nói nên thôi coi như chết rồi. Thấy cũng hay nên nói thôi mày kể anh nghe với, nó biểu hứa đừng cười nó mới kể, ờ, vui tao phải cười, buồn thì thôi, nó kể

Hiền dân đây, năm đó Hiền ra quân nghĩa vụ, cả mấy đứa gần nhà mới rủ nhau làm bữa rượu, say nhào đầu, tới nửa đêm hứng chí mới rủ nhau đi chơi gái. Hai năm quân ngũ giam hãm đời trai nên coi như xả láng một đêm, thẳng tiến ra khu Tân Cảng. Hiền đi với một cô, nhưng mà say quá, vô tới phòng trọ thì ói một đống rồi lăn ra ngủ, nửa đêm trúng gió, Hiền vật vã như sắp chết. Cô gái hoảng quá mới kêu xe ôm chở Hiền đi trạm y tế, trên xe thằng Hiền cứ gào lên, chị đĩ ơi, cứu em chị đĩ ơi, em chết quá chị đĩ ơi, làm cha xe ôm cũng mắc cười theo

"chị đĩ" ở trạm xá tới sáng thì bỏ về, sáng ra Hiền nhớ lại, mắc cỡ quá nên cũng giả đò quên luôn, bạn bè có hỏi cũng không dám nhắc cái đêm đó. Nhưng mà trời đất xui sao Hiền gặp lại cô gái định mệnh, số là mấy tháng sau Hiền mới đi làm công nhân trên Thủ Đức, mấy lần tăng ca về khuya, đi ngang chân cầu Sài Gòn,  Hiền nhận ra cô gái hôm trước đứng chờ khách bên đường. Bữa đó Hiền mới đánh liều, tới hỏi, cô nhớ tui không? Cô gái nhìn Hiền một hồi rồi bật cười nắc nẻ, ha ha, cha nội bộ đội kêu tui chị đĩ đây mà, sao tui quên được, còn thiếu tui một dù nha, giờ đi hông?

vậy là xáp lại, mới đầu khó khắn lắm Hiền mới thuyết phục được "chị đĩ" bỏ nghề, bằng cách chiều nào Hiền cũng phải ghé đưa số tiền bằng ba lần đi khách, rồi chở đi ăn, đi coi phim... từ từ rồi Hiền trả hết nợ tiền góp, nằng nặc xin hỏi cưới "chị đĩ". "Chị đĩ" tên là Hoa, đã có một đứa con gái ở quê, dưới Long An,  Hiền theo đuổi riết làm  Hoa không nỡ từ chối mà cũng không dám nhận lời, đêm đêm ngồi khóc, nói mình bị điên rồi mới đi hỏi cưới em, ai đời đi lấy đĩ làm vợ chớ. Hiền cười khà khà, "chị đĩ" lấy em nha "chị đĩ". Hoa cũng phải cười theo, cười mà nước mắt còn ràn rụa

gia đình Hiền mới đầu dĩ nhiên phản đối, mầy trai tơ mà, sao đi lấy gái một lần đò, một con, còn lớn tuổi hơn nữa chớ, nhưng sau thấy Hiền thương quá, cũng thuận luôn, mới cắt cho miếng đất, làm bữa cơm cúng ông bà, đãi đằng bà con lối xóm cho hai đứa nên duyên. Hiền đem mẹ con Hoa về ở,  bỏ qua dư luận, bỏ qua đàm tiếu, cứ vậy thương nhau mà sống. Rồi ngày quá ngày, vợ chồng thuận thảo, làm ăn cũng có đồng dư, cất được cái nhà nầy. Bữa về nhà mới mừng lắm, hai vợ chồng ôm nhau khóc vì mừng.

nhưng trời không thương, ở với nhau ba năm thì Hoa sảy thai hết bốn lần, tới lần thứ năm thì xuất huyết mạnh, nửa đêm ra trạm xá chậm, rồi đưa lên Sài Gòn chậm, nên Hoa yếu dần, chết trên xe.Trước khi nhắm mắt, Hoa vẫn cười, nói, em có đi  cũng vui, một ngày làm vợ mình bằng vui một đời rồi, giờ thì mình ráng lo cho con em lớn chút, rồi kiếm cô nào đàng hoàng mà đi bước nữa, nha mình. Sau bữa đó Hiền điên dại một thời gian, say sưa suốt, đêm nào uống rượu say cũng kêu, Hoa ơi, chị đĩ ơi, sao bỏ tui, thảm thiết lắm.

...
chuyện em vậy đó, anh Hai đừng cười, giờ cha con nuôi nhau, có nhau, cũng đỡ buồn, con nhỏ cũng hiếu thảo, học giỏi lắm anh Hai, lớn giống hệt má, tánh tình hiền lành, bà con cô bác ai cũng thương. Lúc này chỉ cũng có bạn trai rồi đó anh Hai, bữa có dẫn về đây uống rượu với em rồi, thằng nhỏ coi được hung nha.

hỏi sao mầy không đi bước nữa, còn trẻ mà, kinh tế cũng khá rồi, Hiền cười, dạ thôi, em sợ vợ em ở dưới nó tủi, em thề rồi, đời này kiếp này chỉ có mình nó là vợ em mà thôi.

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

tình nghĩa Gò Quao


tình nghĩa Gò Quao

...
Tư Thân, dĩ nhiên là tuổi Thân, tuổi con khỉ, vốn là bộ đội ra quân, về nhà lấy vợ. Tư Thân quê tuốt miệt dưới, xứ Gò Quao nghèo khổ ruộng phèn nước mặn, dù mấy năm quân ngũ cộng với tánh siêng năng sẵn có nhưng hai vợ chồng mới cưới quay đi quay lại với đủ thứ nghề và mấy công ruộng ở quê vẫn không khá nổi. Lúc thằng Hai ra đời nó cứ đau bịnh riết, hai vợ chồng Tư Thân mới mang nó lên Sài Gòn chữa trị, thuốc thang hết tháng lại năm, chỉ cầu thằng nhỏ khỏe mạnh mà về. Trong lúc chị vợ trong bịnh viện chăm thằng nhỏ thì Tư Thân chạy tới chạy lui, mua cái này cái kia giùm các nhà khác, cũng nuôi bịnh ở đó, mới đầu là sẵn tiện giúp người ta thôi, rồi được người ta cho vài đồng lẻ, gom ngày cũng kha khá, thấy vậy Tư Thân mới làm mạnh hơn, gần như trở thành một đầu mối mua bán hàng, lấy thuốc, đóng tiền… vừa là giúp đỡ mọi người, mà mình cũng kiếm ít bạc lẻ.

thằng Hai ra viện nhưng chưa khỏi hẳn, bác sĩ hẹn tái khám, Tư Thân bèn bàn với vợ, mình ra thuê cái nhà trọ coi chừng thằng Hai, tui về nhà kiếm ít vốn lận lưng, coi bộ trên Sài Gòn mua bán dễ sống hơn dưới quê, mình à. Vậy là làm liền. Lúc này tánh lanh lợi, chịu khó, dễ thương của Tư Thân mới phát huy, mua thiếu, được giá, bán hết hàng liền liền, tất nhiên gia tài cũng chỉ là trái dừa lạnh, vài gói mèo, đôi chai nước… bỏ trong cái thùng xốp, bán quanh cổng bịnh viện hoặc đi chỗ này chỗ nọ, tùy có sự kiện, hay chỗ nào đông người là Tư Thân tới bán. Mới đầu ngày kiếm ba chục, rồi kiếm năm bảy chục, bữa nào hên kiếm một hai trăm, hàng hóa nhiều dần, rồi một cái thùng xốp không đủ thành ra hai cái, Tư Thân mới kiếm cái đòn gánh, gánh luôn hàng của mình hai đầu, ai mua gì bán đó, thậm chí muốn có bữa nhậu dã chiến với bia lạnh, nem chua với tương ớt, Tư Thân cũng có luôn.

ba năm ròng rã mua bán, vợ chồng Tư Thân mới thuê được cái phòng trọ đàng hoàng, tháng triệu bạc, sắm sửa được tivi, tủ lạnh, bếp núc đầy đủ, thằng Hai khỏe mạnh hẳn, lúc này đi học mẫu giáo nên vợ Tư Thân mới đi làm giúp việc nhà cho người ta, làm theo giờ, ngày hai ca, cũng kiếm ba bốn triệu một tháng, còn được nhà chủ thương, cho cái này cái nọ. Cuộc sống gia đình sáng sủa dần, tháng tháng còn gửi về quê cho cha mẹ được năm ba trăm làm quà, Lễ Tết vợ chồng khính nính đồ đạc, rạng rỡ dắt díu nhau về quê, tuốt miệt Gò Quao, cũng bảnh như ai.

...
bữa đó Tư Thân đi bán tới trưa thì cũng mệt, mới vô ngồi bóng cây nghỉ, lấy cơm vợ ra ăn, thì có một ông khách nọ cũng đi bộ, ghé lại mua chai nước, rồi xin phép ngồi kế bên uống, ông khách sang trọng quá nên Tư Thân cũng ngại, hổng dám nói chuyện, chỉ cúi mặt ăn cơm, hỏi gì trả lời nấy. Lúc người khách hỏi, chú quê đâu, Tư Thân thiệt thà nói em quê Kiên Giang, hỏi tới nữa, Kiên Giang khúc nào, mới nói Gò Quao, người khách lạ im lặng một hồi, rồi giựt mình, nói, tui cũng quê Gò Quao nè. Vậy là Tư Thân mừng rơn, bỏ cơm, mới quay qua nói chuyện, hỏi thăm nhà cửa, dòng họ, thì ra cũng cùng một xã, bên đầu kinh xáng bên ngay khúc giữa, tuy không biết nhau nhưng cũng biết tới ông thầy Hai y tá chích thuốc dạo, ông Bảy thiến heo, bến đò kinh tây hồi xưa có con nhỏ đưa đò đẹp hết biết… chuyện mãi không dứt.

Tư Thân thấy cũng vui, như gặp bà con xa ở Sài Gòn, mới rủ ông khách nọ làm vài lon bia, hai người ngồi dưới cái bệ xi măng sát gốc cây, bày bia lạnh ra uống, lúc này mới thiệt thà hỏi thăm ông khách nọ, ổng nói thôi kêu ổng là anh Ba đi, mười mấy năm rồi ổng không về quê, sống ở nước ngoài, là Việt Kiều, thỉnh thoảng có về Việt Nam chỉ ghé Sài Gòn một bữa rồi đi. Làm đâu hai lon bia thì chia tay, anh Ba phải về đi mần còn Tư Thân đi bán tiếp, anh Ba đòi trả tiền mà Tư Thân nhứt quyết hổng lấy, bà con cùng quê, gặp nhau mừng hết lớn, cho tui đãi lon bia cho mát dạ tui mà anh Ba. Anh Ba mới xin số điện thoại, nói bữa nào gọi, làm sâu sâu hơn chút, đặng kể chuyện Gò Quao cho anh Ba nghe, cho đã.

...
bữa khác, đâu chừng mấy tháng sau thì có số điện thoại anh Ba gọi Tư Thân, mà hổng phải anh Ba gọi, là người khác, nói anh Ba bị tai biến, té trong khách sạn ở Sài Gòn, người ta lấy số điện thoại anh Ba để gọi cho người thân mà thấy toàn tên nước ngoài, có đầu danh bạ là Tư Thân, số 4 Thân LoveGQ, tưởng đâu bạn gái nên mới gọi. Tư Thân lật đật gánh đồ vô bịnh viện thăm, bịnh viên kêu đóng tám trăm ngàn Tư Thân cũng đóng, hỏi bà con sao Tư Thân nói ông đó là anh Ba tui, thực ra anh Ba tên chữ là Henry Nguyễn. Được đâu hai bữa thì anh Ba tỉnh, nhưng còn yếu, cảm ơn Tư Thân nhiều lắm, lúc này mới báo công ty, rồi thu xếp giấy tờ, xin chuyển qua bịnh viện sang trọng hơn, tuốt bên quận 7, hỏi anh Ba có thân nhân nào khác không, anh Ba lắc đầu, thôi có chú Tư đây được rồi.

chỗ mới xa quá, Tư Thân đi bộ qua không nổi, sẵn có vợ đang làm mướn bên đó, mới kêu vợ, nói mình tranh thủ ra vô chăm anh Ba, ảnh ở một mình chắc buồn mà sanh bịnh, cuối ngày Tư Thân đi xe buýt dẫn thằng Hai qua chơi, nói chuyện với bác Ba, thằng nhỏ biết gì đâu, gặp bác Ba mừng rơn, kể chuyện này chuyện nọ, rôm rả lắm. Anh Ba nói với Tư Thân, vợ chồng chú tốt quá, gặp nhau qua đường mà cần chi tử tế vậy. Tư Thân cười nhe hàm răng trắng trên gương mặt đen sạm, bậy nà anh Ba, mình cùng dân Gò Quao chớ có phải qua đường. Lúc mọi người về hết, anh Ba nằm ngó ra cửa sổ, nước mắt chảy dài.

chừng tháng sau thì anh Ba về nước, trước khi đi, anh Ba mới kêu Tư Thân tới, cho ít tiền, nói ít chứ thực ra một ngàn đô đối với nhà Tư Thân là cả gia tài. Nhưng Tư Thân không lấy, nhứt quyết không lấy, nói anh Ba khi dễ tụi em quá, ai làm vậy kỳ lắm, nhứt quyết không lấy nha. Rồi sau vợ chồng tiễn anh Ba về, còn chống gậy nhưng cũng tự đi ra sân bay được, thằng Hai nhỏ xíu mới quấn bác Ba được mấy bữa, giờ nghe bác Ba đi thì nó khóc thiệt tình, làm bác Ba nó cũng chảy nước mắt theo.

...
mấy tháng sau có một người gọi điện cho Tư Thân, tự xưng là vợ của Henry Nguyễn, Tư Thân quên mất, hổng nhớ Henry nào, thì ra là anh Ba Gò Quao mình chớ ai, mới hay anh Ba mất rồi. Anh Ba có bịnh cũng lâu, rồi bị té nên bịnh trở nặng, về nhà được mấy tháng thì không qua khỏi. Anh Ba không con cái, hậu sự đã lo xong, giờ muốn đem cốt của mình về đặt ở Gò Quao, nhắn lại là chuyện này phải nhờ Tư Thân lo. Tư Thân, như thường lệ bản tánh, làm liền chớ đắn đo gì. Lúc nhận cốt của anh Ba, mới thấy có lá thơ gửi cho Tư Thân, đại khái cảm kích cái tình nghĩa Gò Quao, của Tư Thân, và dặn đem cốt mình đặt ở đâu, gặp ai, làm vầy làm vầy…

...
lúc luật sư kêu Tư Thân ra lãnh một trăm ngàn đô của anh Ba để lại cho mình, Tư Thân còn không biết nó trị giá bao nhiêu, một trăm ngàn đô là cỡ hai tỉ mấy, anh luật sư mặc đồ măng sết với cà vạt đỏ nói với Tư Thân vậy, làm hai vợ chồng bật ngửa, cũng không biết hai tỉ mấy là nhiều cỡ nào, hả mình, Tư Thân hỏi vợ. Chị Tư cười hiền lành, làm sao nhiều bằng cái tình nghĩa của mình, mình sống buôn bán cái tình nghĩa đó, thứ tình nghĩa xứ Gò Quao, lời quá.



...
(Bài đăng Người Đô Thị - SỐ T11-2014, post theo yêu cầu bạn đọc)

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

muốn khỏe đẹp thì phải tập thể thao,



muốn khỏe đẹp thì phải tập thể thao,

1.
Trong phim “Dawn Of The Planet Of The Apes”, có một đoạn, lúc con trai của Ceasar hỏi cha sao chưa quay trở lại để thống lĩnh bầy đàn, Ceasar trả lời “ta phải khỏe lại đã, những con khỉ khác chỉ trông theo con nào khỏe nhất mà thôi”, rất chính xác. Và loài người, dĩ nhiên, về cơ bản cũng như vậy. Thế giới nể sợ nước Mỹ, đơn giản vì họ mạnh nhất, dù có thông minh như người Do Thái, có kỷ luật như người Đức, có hào hoa như người Pháp… (hay liều như thằng Triều) thì cũng phải nể người Mỹ nhứt, rất đơn giản và bản năng.

2.
thời tuổi trẻ của tôi, tôi cũng ham chơi vô độ lắm, thời gian rảnh cũng bị đốt nhiều ở quán café, quán nhậu, ở những cuộc ta bà đây đó không có điểm dừng, không có giới hạn. Nhưng bây giờ, ngoài 40 rồi, khi nhìn các bạn trẻ, trẻ như tôi ngày xưa, ngồi hằng giờ ở quán café, đứng cầm cây cơ cả ngày ở bàn bida hay đỏ mặt tía tai chém gió ở quán bia, tôi thấy rất tiếc cho các bạn, chính vì tôi qua rồi tôi biết, tuổi trẻ không quay trở lại, thời gian đẹp nhất của đời người đã bị chúng ta hoang phí vô độ, nếu tôi được trẻ lại, tôi sẽ dành nhiều thời gian hơn để đọc sách, học ngoại ngữ, học đàn, theo học một đại học hoặc một nghề nào đó, đi du lịch có chọn lọc… và cơ bản là tôi sẽ dành nhiều thời gian hơn tập thể thao, để đến năm 40+ tuổi tôi vẫn có cái bụng gọn gàng, thân hình rắn chắc, bần bật như một cái lò xo tiếp đạn

3.
hôm rồi có post cái ảnh đeo găng tay boxing, mấy bạn cứ hỏi là tôi tập võ gì, ở đâu, có bạn nhắc là tôi đứng không đúng tư thế nữa… thực ra tôi chẳng tập võ gì, tôi chỉ thích đấm đá bao cát cho khỏe và vui. Nói thiệt là tôi không có năng khiếu thể thao (lẫn văn nghệ), tôi đã từng chơi rất nhiều món, món nào cũng chơi dở nên chán và bỏ cuộc, chỉ duy nhứt tập đánh nhau là tôi giỏi, và thích. Hồi nhỏ, những năm 10~15 tuổi tôi đã từng được đào tạo để trở thành võ sĩ chuyên nghiệp, nhưng do thời đó võ tự do gây chấn thương nhiều quá, những trận đấu tập khốc liệt mỗi ngày làm mẹ tôi xót con và kiên quyết bắt tôi từ bỏ món này. Sau đó tôi tham gia nhiều món khác, karate, teawondo, vovinam… món nào cũng đôi ba tháng rồi nghỉ, chủ yếu là vì tôi đánh nhau nhiều quá, mẹ tôi phát hoảng nên cấm tiệt luôn, mãi cho đến gần đây tôi mới tập lại, thấy thích thú vô cùng, cho nên võ tôi tập chỉ là võ rừng, võ đường phố, nếu bạn muốn biết.

4.
có nhiều bạn inbox, nói rằng tôi rất có ảnh hưởng đối với họ, hoặc anh/chị/em/con của họ vì nhưng điều lạc quan mà tôi thể hiện trên FB, họ cho đó là một dạng “năng lượng tích cực”, tôi đồng ý và thực lòng, tôi rất vui. Nhưng nếu bạn hỏi tôi một lời khuyên về tuổi trẻ và cuộc sống, tôi thiệt hổng biết khuyên gì, có chăng, tôi khuyên bạn nên tập võ (tứt nhiên, bạn có thể chọn môn thể thao khác, nếu thích), nhưng tôi chơi nhiều món rồi, tôi vẫn thích tập võ. Bạn có thể nghèo, bạn có thể không học đại học, nhưng có hai thứ nhứt thiết bạn, nhứt là một bạn trai trẻ, phải làm, đó là đọc sách và tập võ. Đọc sách không phải chỉ để có tri thức, đọc sách là cách tập luyện thể lực cho lý trí và tâm hồn, để nó luôn tràn đầy cái gọi là “năng lượng tích cực”, còn tập võ, cũng không đơn giản chỉ là chơi thể thao, nó tập luyện cho bạn một ý chí mạnh mẽ. Khi bạn quen với việc hạ gục một người khác, bạn sẽ thấy cực kỳ tự tin, việc giao tiếp của bạn trở nên rất dễ dàng, và một điều nữa, sẽ rất hiếm khi bạn cảm thấy bất lực hay suy nhược trong cuộc sống.

5.
đầu tuần vui vẻ, và nhớ tập thể thao

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2014

chuyện ở tiệm bán đồ chơi



chuyện ở tiệm bán đồ chơi

...

hai cha con dừng xe máy, người cha như vừa làm hãng về, còn bộ đồ đồng phục công nhân, anh cẩn thận, gạt chống, bước xuống xe rồi mới ẵm thằng con chừng năm sáu tuổi xuống, đặt nó hẳn vào trong cửa hàng rồi mới quay lại rút chìa khóa xe
- đây rồi, quá trời luôn, con chọn robot đi, chọn con nhỏ thôi nha con, con bự quá dễ gãy tay giống lần trước
- dạ, con thích con biến hình kia, màu đỏ đó
- con này nhiêu vậy anh, người cha giơ cao con robot hỏi vọng vào trong, nơi có anh chủ tiệm, đương lui hui kiếm đồ cho khách
- coi giùm giá phía sau đó anh ơi, anh chủ tiệm cười, nói như cáo lỗi, đang lu bu chút nha
- trăm tám lăm, mắc dữ, người cha lầm rầm


ánh mắt đứa nhỏ háo hức, hai tay nó nô lên, với với theo tay cầm con robot của người cha, nhưng khựng lại ngay vì cha nó đã đặt con robot vào chỗ cũ, trên kệ
- con lựa con khác đi, con này...hư rồi
- đâu đâu, hư sao đâu để bác coi cho, anh chủ tiệm nhanh chưn bước ra, phủi phủi đôi ta vô lưng quần vừa cười với đứa nhỏ, vừa đưa tay lên món đồ
- anh ơi, anh kiếm giùm em con nào giống giống vậy mà chừng năm bảy chục thôi anh nha, em hổng có đủ tiền, bị lỡ hứa mua robot cho nó cả tuần nay mà chưa có lương, người cha cười với anh chủ tiệm, nói nhỏ vừa đủ nghe, nụ cười hiền lành như xin lỗi
- con này nha con, con này nha, hay là con này đẹp nà... cả hai người đàn ông thi nhau thuyết phục thằng bé chọn một con robot khác, nhưng mọi nỗ lực đều không thành. Trong lúc loay hoay, một trong hai người đã đụng vô cái kệ, làm con robot lúc đầu rớt xuống đất, chỉ chờ có vậy, thằng nhỏ chạy sấn tới, ôm chặt con robot mà nó đã chọn, nó cầm chắc như thể muốn chống cự lại cả thế giới.

người cha thở dài, móc bóp đếm tiền, chỉ có một trăm ba chục ngàn trong bóp anh. Anh chủ tiệm vừa xếp lại mấy món đồ, vừa ý tứ nhìn người cha từ phía sau, rồi, nhón tay vô cái bóp đang mở của người cha, rút tờ một trăm sờn cũ
- đưa anh một trăm được rồi, đem về cho nó chơi đi, còn lại bữa nào có đưa sau
- dạ, cảm ơn anh quá, tới tháng em lãnh lương ra ghé trả anh liền, nhà em ở trên này, khúc...

anh chủ tiệm cười khoát tay, ra dấu đi đi, đừng khách sáo
người cha cúi xuống, nhấc bổng cả đứa nhỏ đang ôm con robot
- con cảm ơn bác đi
- dạ con cảm ơn bác, đứa nhỏ khoanh tay, thực ra nó vẫn đang khoanh tay, với con robot ôm chặt sau canh tay nhỏ bé

hai cha con đi ra, cả hai cùng cười tươi rạng rỡ, ngoài đường, Sài Gòn xe cộ ngược xuôi, phố xá lên đèn

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

biệt thự không đóng cổng,


biệt thự không đóng cổng,

tôi quen anh cũng lâu, dễ cũng hai chục năm, từ lúc chân ướt chân ráo lên Sài Gòn, lâu vậy nhưng không thân mấy, số lần gặp nhau thì rất ít, càng lúc càng thưa dần, chỉ thi thoảng mới ngồi riêng với nhau chút xíu, hoặc cứ hẹn hò sẽ ngồi với nhau mãi, cũng không ai trách ai, vì Sài Gòn rộng quá mà. Anh có công ty riêng từ lâu, làm ăn khá giả, mở rộng qui mô, xuất khẩu nước ngoài, càng lúc càng giàu, nghe bạn bè to nhỏ anh giờ ở tầm đại gia, mà tôi cũng quan tâm gì, biết vậy mừng cho anh thôi

năm kia anh kêu ra quán café, bảo Phú xem giùm anh cái thiết kế biệt thự nhà anh, tôi hơi dỗi đùa, bảo sao anh không để công ty em thiết kế cho anh, chơi kỳ cha, anh cười, có thằng cháu con bà hàng xóm đang học năm cuối kiến trúc, má nó năn nỉ để nó thiết kế, mình cũng muốn cho nó một công trình đầu tay, nhưng cẩn thận nhờ Phú coi lại giùm, xem được không. Cái biệt thự thiết kế khá đẹp, còn non tay nghề nhưng sáng tạo, kiểu rất hiện đại, dùng kính nhiều nên nhìn sáng sủa. Tôi chỉ góp ý là anh coi lại đi, chớ Sài Gòn giờ phức tạp, cửa kính nhiều mà không có song sắt thì dễ bị trộm lắm, anh cười, vụ đó không lo đâu.

anh kể, thời sinh viên anh cùng mấy đứa bạn cùng quê vô xóm đó ở trọ, tuy không gần trường anh nhưng lại là trung tâm để đi lại mấy trường khác. Xóm nghèo, toàn nhà trọ, nhà cấp bốn lấn chiếm lụp xụp, cư dân toàn dân lao động, xe ôm, ba gác, xích lô, thợ hồ, ve chai, buôn bán nhỏ. Vô ở trọ rồi mới biết xóm này cực kỳ phức tạp với đủ loại tệ nạn, rượu chè, trộm cướp, ma tuý, giang hồ… nhưng được cái nhà trọ rẻ, và bình dân nữa. Anh ở trọ chỗ đó 5 năm, có lúc thiếu tiền nhà cả năm vẫn được ở, có lúc mất xe đạp được bà con gom tiền mua cho xe khác, có lúc trong túi không còn cắc nào vẫn đều đặn ăn ngày ba bữa, café đầy đủ, lúc nào có tiền trả sau. Anh ở trọ chỗ đó 5 năm, thành cư dân hẻm luôn, lúc ra trường đi làm vẫn tiếp tục ở đó, người ta mở hẻm, tráng nhựa, làm cống, lập khu phố, có tên anh trong cư dân của xóm, tuy sau này phải thuê cái phòng trọ lớn hơn.

rồi anh làm có tiền, anh mua một góc khu nhà trọ, cất cái nhà nhỏ nhưng vẫn đi chung lối nhà trọ. Anh quen chị cũng sinh viên nghèo, hai người cất được cái nhà từ tay trắng và một đống nợ nần, nhưng vẫn đến với nhau. Đám cưới anh đãi nguyên xóm, mỗi người đi mừng, vừa mừng cưới vừa mừng tân gia, mỗi người một món đồ, anh nhớ rõ món nào của ai, cái nồi cơm điện của chị Bảy café, cái giường của anh em ông Thơ ông Nhạc, bộ ghế gỗ do cha con ông Tư thợ mộc đóng, cái cây khế kiểng của bà Sa bánh mì, bộ ghế đá của Tám Cai… vợ chồng anh vui lắm, mấy đêm liền không ngủ, cứ ra vô sắp đặt mọi thứ, lau chùi cho sáng bóng. Nhà cửa từ đó hạnh phúc, anh chị sanh liền 3 đứa con, đứa nào cũng đẹp, cũng ngoan. Rồi anh giàu, giàu lắm, anh mua hết khu nhà trọ, mua luôn miếng đất trống kế bên, thành một lô đất bự, hơn năm trăm thước vuông, và anh cất cái biệt thự đó, do một sinh viên kiến trúc năm cuối, con của của bà Sa bánh mì thiết kế, anh cười vẻ chịu lỗi, anh cũng không nhờ Phú xây được, vì trong xóm có ông Tám Cai, với nguyên bang thợ hồ…



tuần rồi ghé nhà anh, hẻm lớn, thông qua mấy hẻm con, nhưng mà đúng là lộn xộn thiệt, người ta buôn bán, để xe, nhậu nhẹt, ngồi lấn chiếm gần hết con hẻm. Ngôi biệt thự nằm gọn phía sau lô đất, chừa nguyên cái sân mênh mông phía trước, tha hồ đậu xe. Trong sân đám con nít hơn chục đứa đương rộn ràng cười nói chạy nhảy, không biết đứa nào là con anh chị luôn. Anh nói, cái sân nhà anh, anh để như cái sân chung, cho đám con nít trong xóm chơi, chớ tụi nó chơi ngoài đường sợ xe cộ quá, nhà anh có cổng cũng như không, vì không đóng cổng bao giờ.

sân nhà anh, ban ngày con nít chơi, chị Bảy bán café khách khứa ngồi lềnh khênh, buổi tối làm chỗ họp dân phố, xóm có nhậu nhẹt ca hát cũng kéo vô, còn khuya nữa thì lục đục hàng xóm qua gửi đồ, chị Bảy gửi bàn ghế café, vợ chồng thằng Đỏ gửi xe cháo lòng, bà Sa gửi xe bánh mì, bà Chín gửi tủ thuốc, ông Lắm cất xe ba gác.. anh cười, giờ giống như cái sân chung, ai gửi đồ cuối cùng thì tự động đóng cổng, ai lấy đồ sớm thì lo quét dọn, vậy thôi. Mà nói thiệt, nhà anh cũng như cái nhà chung, người ta mượn sân đãi tiệc thì mượn luôn bếp nấu, bọn con nít trong xóm cuối tuần xin qua ngủ chung với con anh để chơi game, người ta đi chợ giùm anh, rảnh nấu nướng giùm anh, tưới cây, cho cá ăn… nhà anh bà con hẻm ra vô thoải mái, cần gì cứ chạy qua lấy.

đang ngồi chơi thì có cô bé tới đứng kế, mặc cái đầm đẹp, đôi mắt tròn vo, anh hỏi, gì đó con, con bé lí nhí, dạ con muốn bông, bông nào, nó chỉ tay ra vườn sau, chỗ dàn hoa lan rất đẹp mà anh thường chăm chút, bông của bác Hai, treo lên sân khấu cho đẹp. Anh nhìn tôi cười, con gái Út chị Bảy café, bữa nay sinh nhựt nó, sáu tuổi, đãi ngoài sân mình nè, cũng bọn nhỏ trong xóm không hà, anh kêu tụi nó làm sân khấu ca nhạc, lát má nó dọn hàng đem bàn ghế vô. Rồi anh gọi ra ngoài cho một phụ nữ dáng lam lũ, chị Bảy, chị bưng tui ly café, rồi vô xách mấy giò Lan ra treo ngoài sân khấu cho tụi nhỏ nha. Lát sau chị Bảy bưng café vô, nói, chú Hai đừng chiều con Út, mấy bông Lan đó quí lắm, treo ra ngoài coi chừng tụi nó bứt trụi lủi à, anh lại cười, kệ đi chị Bảy, bứt bông này nó ra bông khác, chủ yếu cho con Út nó vui, à, bác Hai đặt bánh kem cho con rồi, lát chở tới nha.

lúc tôi về thì bánh kem được chở tới, cái bánh bự chà bá, cả hẻm ra coi, con Út nhảy choi choi mừng, chị Bảy nước mắt ròng ròng, nói, má ơi, nào giờ chưa thấy cái bánh kem nào bự dữ thần ta ơi.


Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

vì sao nên lấy chồng cần thủ,

vì sao nên lấy chồng cần thủ,

dân câu cá có một đức tính vô đối, một đức tính mà mọi ông chồng nên có, là kiên nhẫn, nên các cô gái lấy chồng cần thủ rất vui, cần thủ có thể ngồi hằng giờ nhìn cái đuôi cần. cái chỏm phao mà không mệt mỏi hay chán nản, có thể đứng tung hàng trăm đường câu móc bọc mà vẫn kể chuyện tiếu lâm, nhờ đó, hãy yên tâm rằng hắn có thể vui vẻ đứng chờ bạn trang điểm để tiệc tùng hay đi siêu thị hằng giờ, có thể âm thầm lắng nghe bạn càm ràm về công việc, mấy chị đồng nghiệp khó ưa và mụ xếp xấu xí, hắn chịu đựng bạn cau có, đá thúng đụng nia trong những lúc khó ở khó ăn, thai ngén, nuôi con nhỏ… hắn vẫn luôn luôn nhẫn nại và yêu thương

dân câu cá khỏe mạnh, thực ra câu cá không cần sức, nhưng để chơi món này lâu dài thì phải có sức khỏe và sức bền của một lính thủy đánh bộ, hắn đứng nắng dầm mưa, băng rừng lội sình, thức khuya dậy sớm, đi bộ chạy bền vượt chướng ngại vật… kiểu gì cũng khó ai bì được dân cần thủ, nên yên tâm lấy chồng cần thủ hắn sẽ đủ sức khỏe lo lắng cho bạn, đưa đón chăm sóc bạn và cáng đáng gia đình, hắn chẳng mấy khi đau ốm thuốc thang, chắc mấy khi bạn phải nấu cháo hành nuôi hắn, chẳng cần lo lắng cho hắn lúc trái gió trở trời, hắn bền bỉ như pin enigizer (nhưng bự hơn viên pin nhiều)

bạn lo lắng vì tài nội trợ của mình ư, yên tâm lớn nếu có chồng là cần thủ nha, hắn giỏi nấu nướng lắm, đa số dân cần thủ đều giỏi chuyện bếp núc, nhiều người ở tầm đầu bếp chuyên nghiệp, đặc biệt là chế biến các món từ cá, cá kho, cá hấp, cá nướng, cá chiên, canh chua, canh ngót, lẩu cá… đa số cần thủ đều rất giỏi, nghề dạy nghề và anh em chỉ nhau thôi, có thể hơi lạ nhưng bảo đảm tuyệt đỉnh công phu. Còn nếu hắn không vào bếp, đừng lo, bạn nấu thứ gì kiểu gì đối với hắn cũng là một bữa ăn ngon, vì hắn dễ ăn lắm, vì hắn thèm cơm gia đình, đối với cần thủ thì một góc tư cái bánh chưng sắp thiu, nửa gói mì không nước sôi, hay cái đầu cá lóc lụi trong ngọn lửa bằng lá khô củi mục cũng thành bữa cơm, thậm chí bỏ một hai bữa ăn hắn cũng chẳng hề hấn gì

bạn muốn có một ông chồng tháo vát, có ai hơn cần thủ chứ, việc tỉ mỉ như buộc lưỡi, tóm thẻo, căn phao, quấn khoen… hắn làm còn điệu nghệ, thì ba cái việc vặt trong nhà, sửa điện, thay bóng đèn, gắn ống nước , rửa xe, chùi bugi, chống dột,… thậm chí thay tã, chăm con…đối với hắn là chuyện nhỏ nha, hắn tháo vát và nhiệt tình vô đối, hắn chu đáo đến kinh ngạc nhất là trước và sau mỗi bận đi câu, và chưa kể là trong mọi việc, hắn luôn cực kỳ sáng tạo nữa, sự sáng tạo này trong đời sống vợ chồng là chất men tình cảm rất khó kiếm. Cần thủ không bao giờ ngại khó, ngại khổ, không bao giờ than vãn và đổ thừa hoàn cảnh, để bạn luôn yên tâm rằng chính hắn, là người đàn ông bạn cần

cần thủ là người cực kỳ nhạy cảm, nhiều năm cầm cần cho hắn một sự nhạy bén đến kinh ngạc, chỉ cần hít mùi gió, nhìn cái gợn chân mây, cái ráng chiều là hắn có thể nói chính xác thời tiết, nhìn cái bóng bóng khí sủi lên, nghe cái tiếng quẫy, tiếng táp là hắn đoán ra đó là cá gì, trọng lượng cỡ bao nhiêu… cho nên lấy chồng cần thủ đừng lo hắn không hiểu mình, chỉ cần cái chau mày của bạn là hắn biết phải làm gì, chỉ cần bạn ho một tiếng là hắn đoán được đại cục, nên chuyện cãi vã vợ chồng thường khó xảy ra, vì hắn lường tránh hết rồi, bạn chỉ có vui và vui mà thôi, nha

còn nữa, điều mà mọi bà vợ đều quan tâm, cần thủ sẽ luôn là người chồng chung thủy nhất, hắn có thể vẫn mê nhìn ngắm gái đẹp (ai mà chả mê chứ), nhưng hắn vẫn thích ngắm CÁ đẹp hơn, nếu có tiền việc đầu tiên hắn nghĩ đến là chạy đua vũ trang, trang bị vũ khí khí tài cho việc câu, nếu có thời gian rảnh, thì hắn nghĩ đến chuyện đi câu, nếu ra khỏi nhà, chỗ đầu tiên hắn tìm tới là chỗ có mặt nước… yên tâm nha


các cô gái, hãy mơ về một anh chồng mê câu, còn cô nào đã có chồng cần thủ, chúc mừng bạn, bạn thật may mắn, có thể hắn hơi khét (nắng), hơi hôi (mùi mồ hôi), hơi đen, hơi bẩn, hay vắng nhà một hoặc vài bữa… nhưng hắn là mẫu người chồng tuyệt vời nhất


Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2014

Lê Thị Sài Gòn

...

hai mươi năm trước, có một cô gái, ta tạm gọi là cô Thơm, cô Thơm người vùng núi ở tuốt ngoài Thanh Hóa, làng quê nghèo khó quá nên cô nghe lời một người bà con đưa đường dẫn lối thế nào, lạc vào Sài Gòn làm mướn. Cô Thơm làm phụ việc ở một tiệm phở của một người đồng hương với đồng lương 500 ngàn một tháng, sau khi trừ chi phí cơm nước các thứ thì cô còn dư khoảng 100 ngàn gửi về quê giúp thầy mẹ. Cô Thơm làm lụng khá vất vả, từ 4 giờ sáng đã dậy làm việc, quần quật cho đến tận 11 giờ đêm, hầu như chẳng mấy lúc nào ngơi tay, và không thể ngước mặt lên nổi bởi tiếng chửi sa sả suốt ngày của vợ chồng bà chủ, thỉnh thoảng cô còn bị ném cả giẻ lau vào mặt hay đánh lên đầu côm cốp bằng cái giá bự bằng nhôm thường dùng múc nước phở, nói chung cô Thơm quá khổ. Nhưng khổ cực chỉ làm cô buồn, chớ không hề làm phai bớt nét đẹp ngầm của một cô gái bắc, da trắng môi hồng, mái tóc dài đen mượt.

cô Thơm có hẹn mỗi tháng một lần sẽ điện thoại về nhà, ở quê, cả nhà cô sẽ kéo ra một nhà người quen có mắc điện thoại để cô gọi về nói chuyện với từng người, thầy trước, rồi mẹ, rồi chị, rồi em, thỉnh thoảng nhắn luôn con Hồng, cái Huệ ra cùng trò chuyện. Đó là khoảng thời gian vui nhứt của cô Thơm, cô cười, cô khóc cả giờ liền bên chiếc điện thoại. Cô Thơm hỏi han chuyện gia đình, đồng áng, chuyện sức khỏe thầy mẹ, chuyện học hành mấy đứa em, còn chuyện mình thì cô Thơm toàn nói dối, cô nói cô làm bán hàng, nhàn nhã lắm, có điều chưa quen việc nên lương thấp, mai mốt cô sẽ khá hơn, sẽ gom tiền về thăm nhà…

chỗ cô Thơm gọi điện là một tiệm bán tạp hóa, hồi xưa đa số tiệm tạp hóa thường có gắn thêm cái điện thoại công cộng làm đại lý cho bưu điện, có máy tính cước đàng hoàng, giá cả cũng phải chăng, chỉ có điều tiệm này không có buồng điện thoại riêng, chỉ là để cái điện thoại trong góc khuất đằng sau quầy hàng, kê cái ghế cho khách ngồi nói chuyện, vậy thôi. Cái tiệm tạp hóa của một đôi vợ chồng, chưa già lắm nhưng cũng không còn trẻ, tầm sáu mươi ngoài, ông bà nói giọng bắc, gốc gác đâu ngoài Nam Định Thái Bình, nhưng hầu như không biết gì về quê hương nữa do là người bắc năm tư, ông bà đã sống cả đời ở Sài Gòn, ông bà rất hiền và dễ thương. Ông bà có hai người con,, một người theo bạn bè vượt biên rồi sống ở Úc, còn người kia thì chết lúc còn nhỏ do đau bịnh, giờ ông bà gần như sống với nhau thôi.

Tiệm tạp hóa cũng vắng khách, nên ông bà hay kê ghế ngồi chơi, xem báo đọc sách gần chỗ cái điện thoại, và vừa vô tình vừa cố ý, đều dõi theo cuộc trò chuyện với quê nhà của cô Thơm. Biết hoàn cảnh cô Thơm, ông bà thấy thương cô lắm, mỗi lần cô sang gọi điện thì ông lén tắt cái máy tính cước, nó chỉ dừng ở 5 ngàn đồng dù cô có gọi bao lâu đi nữa, lâu lâu bà kêu ra cho cô món này món nọ, chai dầu gội, chai sữa tắm, cái quần cái áo, nói là dư dùng đem cho, chớ thiệt ra cũng đồ mới cả, cô Thơm cũng quí ông bà không kém.

có một anh nọ, ta tạm gọi là anh Bần đi, bần là tên một loại cây mọc nhiều vùng nước lợ, gần mé nước, bần trong tiếng nam bộ cũng có nghĩa là nghèo, anh Bần quê miệt Cần Đước, cha mẹ chẳng may mất sớm, mấy đứa con nương tựa nhau, đứa lớn chăm đứa nhỏ cùng với sự đùm bọc của bà con nội ngoại xóm riềng mà lớn, như cái cây ngọn cỏ, như con thòi lòi con ba khía, khỏe mạnh và hiền lành, dù không học hành đàng hoàng.

anh Bần chạy xe ôm, thực ra anh là lính nghĩa vụ ra, sau ba năm đóng quân ở sư đoàn năm, chuyên trồng rau nuôi cá, anh xuất ngũ trở về không có nghề ngỗng gì, may có ông chú kêu về, cho cái xe máy cũ, chạy xe ôm. Nói chạy xe ôm chứ thực ra công việc của anh Bần là sáng chở ông chú ra cửa tiệm đâu tuốt ngoài Chợ Lớn, phụ dọn hàng với ông chú, rồi về chở cháu đi học, đưa bà thím đi chợ, đưa về, chiều lại đón cháu, ra đón ông chú, đóng cửa tiệm, tối thì anh ngủ lại ngoài tiệm coi hàng… Nói là chạy xe ôm chứ anh cũng không dư đồng nào vì thời gian cao điểm thì mắc chở chú thím, dọn hàng, còn lại chạy lòng vòng kiếm khách, đổ xăng cũng hết tiền. Anh Bần thường thỉnh thoảng chở hàng cho ông bà chủ tiệm tạp hóa, anh giao tương, chao, sa tế, lạp xưởng khô… từ Chợ Lớn xuống, thường ngang khúc giữa trưa, nên ông bà mời dùng cơm trưa, riết rồi thân quen

tới đây thì chắc các bạn cũng biết rồi, ông bà chủ tiệm tạp hóa nọ bèn cáp anh Bần cho cô Thơm, quá đẹp đôi mà, có điều cả hai chưa tiến xa được ngoài một vài lần trò chuyện và cái nắm tay rụt rè. Bởi nếu không đi điện thoại về nhà thì cô Thơm có rảnh mà đi đâu, đi chút về lại bị chửi, lại bị đánh nên cô sợ, cao điểm là có lần cô đi gặp anh Bần về, trượt chưn té làm bể một chồng tô, cô bị trừ nửa tháng lương, bị chửi đến ba đời và bị vụt cơ man nào là đòn. Còn anh Bần thì cũng vậy, loằng ngoằng chút với một hai cuốc xe lẻ là đụng giờ về đón chú, đưa thím, không hở ra được, lỡ mà để chú thím chờ năm ba phút thì cũng mặt nặng mày nhẹ, tao nuôi mày báo cô báo cậu, điếc đầu. Mà cơ bản nữa là vì cả hai nghèo quá, còn gánh nặng cơm áo sau lưng, tiền đâu, uống ly nước mía còn không dám, làm sao nghĩ chuyện yêu đương chồng vợ

thấy lâu quá đôi trẻ chưa tiến triển gì, ông bà tìm hiểu thì mới ra sự tình, cũng khó hén, nhưng Sài Gòn mà, luôn luôn có cách, Sài Gòn thì luôn luôn có cách. Ông bà thời trước nữa, thời mới giải phóng, bị đưa lên Sông Bé khai hoang lập đất, làm hợp tác xã trên đó, cực khổ quá nên đứa con lớn bỏ đi vượt biên còn đứa con nhỏ đau bịnh chết trên tay ông bà trong nước mắt, mãi sau chạy chọt mới về lại được Sài Gòn. Sau này giải tán hợp tác xã, người ta vẫn để cho ông bà cái lô đất cũ, coi như công xã viên, lô đất rẫy chừng 3 hecta, trồng cây gì, nuôi con gì cũng ngon lành lắm, có điều đường vô đó xa xôi cách trở, nghe nói đi xe máy chừng cây số phải dừng lại lấy cây dích bùn đỏ ra rồi mới đi tiếp được. Ông bà lên nhận đất rồi, nhưng chưa biết làm gì, hiện đang bỏ không, bán thì cũng không được mà làm thì hổng có sức làm. Thì đây, đưa đôi trẻ coi như quà cưới

đám cưới diễn ra luôn ở tiệm tạp hóa, đãi bốn bàn, ông bà chủ tiệm là chủ hôn, chú thím anh Bần đưa rể, thầy mẹ với mấy đứa em cô Thơm đón xe vào nam đưa dâu, có cả anh con trai lớn của ông bà ở Úc gửi về tiền mừng. Anh Bần đen thui xúng xính trong bộ đồ mướn, cô Thơm được trang điểm mặc áo dài gấm nhìn đẹp rực rỡ, chụp mười tấm hình. Cưới xong anh Bần chở cô Thơm, cái ba lô đằng trước cái túi cói đằng sau, ra Bình Triệu hướng lên Sông Bé, bắt đầu cuộc sống mới

vợ chồng anh Bần cô Thơm siêng năng chịu khó, yêu thương nhau, anh Bần vốn là lính chuyên trồng rau nuôi cá nên với cái rẫy trong tay thì anh như người khai vương lập quốc, cô Thơm gái bắc mà, giỏi giang hơn nhiều cô gái khác nên một tay giúp chồng làm nhà, đào ao, trồng cây, làm chuồng heo, chuồng gà… rồi cô Thơm có bầu, là con gái, vì ở xa quá nên cô Thơm quay về Sài Gòn, về nhà ông bà tiệm tạp hóa để chờ sanh, ông bà cưng lắm, lần đầu có cháu có dâu mà, cưng lắm, chăm chút kỹ vô cùng, ngày nào cũng bồ câu gà ác ăn riết.

đứa bé, con của anh Bần và cô Thơm, ra đời ở Sài Gòn, nó tên là Lê Thị Sài Gòn. Năm nay nó mười chín tuổi, đẹp như mẹ nó, hiền như cha nó. Anh Bần giờ ngon lành, lúc tách tỉnh người ta kêu làm giấy đỏ, ông bà cho anh đứng tên luôn, rồi nhà nước mở đường mới, qua đúng rẫy của anh. Cô Thơm sanh thêm hai đứa con nữa, thằng Bình Phước thằng Bình Long, giờ họ nhà ngói xênh xang, cả gia đình hai bên xúm vô làm trang trại, cuộc sống tươi vui lắm

vậy đó, đó là câu chuyện của cô bé Lê Thị Sài Gòn, tôi gặp cháu chút xíu, nó kể tôi nghe trong nét mặt rạng ngời, nó nói nó thích tên mình lắm, mà ai cũng thích tên nó, nhiều khi nói chuyện người ta cứ kêu Sài Gòn, Sài Gòn, nghe thích lắm. Ừ ta cũng thích cháu, ta cũng thích tên cháu nữa, Sài Gòn à



Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

Ở Sài Gòn (2)


...
có những thứ, ở Sài Gòn, rất nhỏ, nhỏ quá không thành chuyện, nhỏ nhặt đến mức không ai để ý, ai cũng coi là chuyện lình bình hằng ngày, như nắng như mưa, như cái cây cụt ngọn như đèn đường vàng vọt lúc tối trời, nhỏ bé và nhẹ nhàng đâu đó như một tiếng một cái phủi tay, như lóc cóc tiếng mì gõ, như một vốc trái cây bốc thêm… nhỏ lắm, vậy mà khi xa người ta mới nhớ, mới thương, mới lật đật ra vô coi ngó, thầm thỉ với mình, ủa ở đây hổng giống Sài Gòn, ủa vậy là mình nhớ Sài Gòn sao, kỳ vậy cà
...


1.
ở Sài Gòn, thường khi dừng đèn đỏ ngã tư, nếu trời nắng người ta sẽ dừng ở bóng cây gần nhứt, cho dù cái chỗ dừng xe còn cách cái đèn đỏ chừng chục mét, mà không ai thấy phiền, xe sau nối xe trước, chen chúc trong cái bóng mát nhỏ nhoi đề chờ lao tiếp vào dòng người khi đèn xanh bật sáng, trong ầm ĩ tiếng động cơ phố xá, rồi cô gái ngồi sau bất chợt hỏi, cây gì bông tím đẹp ghê ta nơi, tiếng đáp từ một người đàn ông nào đó, xa mãi phía sau, bằng lăng

2.
ở Sài Gòn, khi đừng đèn đỏ, nếu đường không quá đông, người ta vẫn luôn chừa một lối nhỏ, ngay bên phải sát lề, để dành cho những chiếc xe máy quẹo phải, nếu quên chừa thì người cần quẹo cứ nhích tới xin, hoặc một người khác tự động nhắc, bà con xích qua chút cho người ta quẹo phải, chỉ vậy thôi, chút nhường nhịn giữa phố phường lộn xộn, hổng ai nhớ, không ai làm ơn cho ai cũng không ai cần luật lệ làm chi, chỉ là một thứ vô hình, mà người ta hay gọi là, biết điều
3.
ở Sài Gòn, khi đi ngoài đường lỡ làm rớt món đồ nào đó, ví dụ như cái nón, cái áo, cái mạng che mặt, cái cặp sách… mấy anh chở hàng làm rớt bịch hàng, nếu không sợ xe khác cán phải món đồ thì chỉ cần dừng lại, quay đầu nhìn về hướng món đồ mình làm rớt, rồi lát tự động có người đi sau lượm đưa lại, đôi khi đưa tận tay, cũng có khi vội vã người ta lấy cái chưn móc món đồ lên, chạy tới rồi đá qua cho bạn, y như làm xiếc, coi kỳ lắm. Cũng có khi bạn làm rớt mà không biết, người ta cứ lượm, rồi lạch đạch chạy theo để đưa cho bạn, nhiều khi món đồ không bao nhiêu nhưng mà bạn vui, vậy rồi người ta cũng tất tả đi, không kịp nhìn mặt bạn để nhận một nụ cười, một tiếng cảm ơn

4.
ở Sài Gòn, thường giữ xe miền phí ở mấy quán café, quán ăn, quán nhậu.. miễn phí là không thu tiền giữ xe, dĩ nhiên ở đâu cũng miễn phí, mà Sài Gòn miễn phí có tặng kèm nha, kèm nụ cười, dù có thẻ hay không thẻ. Mấy anh bảo vệ giữ xe quán thường rất dễ thương, bạn chỉ cần chạy xe tới quán, đá chống rút chìa khóa cầm thẻ rồi cứ vậy lững thững vô quán, anh bảo vệ sẽ tự động dắt xe bạn, xếp vô hàng, khéo léo để không làm trầy xe bạn, nếu trời nắng anh kiếm tấm bìa che lên yên xe, trời mưa anh phủ bạt cho khỏi ướt, mà rủi có ướt, lát nữa dắt xe ra anh sẽ lau khô cho bạn. Bạn ăn uống thoải mái nha, lúc bạn lục đục tính tiền thì anh bảo vệ nọ đã đẩy xe bạn ra khỏi hàng, cầm cái đuôi xe vừa cười vừa hỏi, anh Hai đi hướng nào để em dẫn, bạn hất mặt hướng nào thì anh sẽ dẫn xe ra hướng đó, bạn đưa thẻ và đi, có dư tiền lẻ bạn cho anh năm ba ngàn, không thì thôi, hổng sao, có khi bạn cho người ta còn hổng dám nhận, vẫn tiễn khách vui vẻ, cảm ơn anh Hai ủng hộ, mơi mốt ghé nữa anh Hai… anh bảo vệ kiêm dẫn xe đó, lương cũng năm ba triệu, đứng ngoài nắng ngoài mưa, có cười một trăm lần một ngày, có dẫn mấy chục chiếc xe cũng không thêm mấy đồng bạc, đừng nghĩ người ta làm vì tiền mà mang tội

5.
ở Sài Gòn, mấy người đi xe máy chở hàng nặng hay cồng kềnh, thường chở yên sau cột bằng dây, đa phần là xe ôm làm thêm việc giao hàng hoặc mấy anh chuyên lấy hàng ơ chợ đầu mối, nhiều khi đi lặc lè ngoài đường mà có tới mấy chục người theo nhắc, em ơi tuột dây kìa, ê sao nó nghiêng bên này dữ vậy mày, anh ơi coi chừng rớt cái bịch bên này… rồi tỉ như rủi mà có tuột dây, có rớt hàng, thì tự động người ta dừng lại, khiêng lên xe phụ, tấp vô lề cột lại giúp… chớ mình ên anh giao hàng sao làm được, nên người đi giao hàng ở Sài Gòn thường không sợ chở hàng nhiều, không sợ đi một mình, bởi, có gì nhờ bà con người ta phụ

(còn tiếp)

Hình: một thanh niên dừng xe, phụ cột đồ giúp cho một anh giao hàng bị đứt dây cột, giữa trời nắng đổ lửa buổi trưa, Sài Gòn, quận nhứt 2013


Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2014

xì ke

...

đang đi bộ trên vỉa hè thì nghe tiếng bước chân đằng sau, quả nhiên có người lại gần, đưa tay níu cánh tay mình, ngoảnh lại lập tức thủ thế, đó là một thanh niên, tầm hơn hai mươi, ốm nhách, đội nón kết, áo khoác vải, bên trong là áo thun có lẽ từng là màu trắng, quần jeans thùng thình, khuôn mặt không đến nỗi, ngoại trừ đôi mắt sâu hoắm và đôi môi thâm đen
- anh ơi, cho em xin năm chục ăn cơm, em đói
- thanh niên mà xin tiền mầy
- dạ... dạ...(gãi gãi đầu)
- tao không cho thì sao
- dạ.. dạ... (gãi gãi lưng)
- tao không cho đó, có đồ chơi móc ra đi
- dạ không có, em xin tiền chớ không phải ăn cướp
- mầy xin kiểu đó là ăn cướp còn gì, mầy nghiện phải không
- dạ...
- cắn hay chích
- dạ chích, tới cữ vả quá
- giờ tao không cho mầy thì tiền đâu mầy chích
- dạ chắc em cũng phải đi ăn cướp thiệt
- ngon cướp tao nè, mầy đi ăn cướp giỏi lắm được một hai lần, rồi người ta đánh què giò, cho mầy đi trại chăn kiến năm năm, có đáng không, mầy vô trại lần nào chưa
- dạ chưa, mới đi bụi mấy ngày, tại "chà đồ nhôm" quá bị ông già kêu (công an) khu vực, em bỏ nhà đi chớ không chắc cũng bị hốt đi trại
- thôi, không có năm chục, tao cho mầy một trăm, nhưng mà mầy phải nghe tao một câu
- dạ, cảm ơn anh
- thanh niên mà vầy là hư mẹ nó đời, mày phải ...blav...blav...
- dạ, em biết
- biết mẹ gì, tao biết là tao nói mầy cũng không nghe lọt đâu, nhưng mà coi như tao nói rồi, mầy đừng để tao gặp lại mầy nha
- dạ, anh cho em xin thêm điếu thuốc
- móa, được voi đòi Hai Bà Trưng mầy
- dạ, em cảm ơn
- nói thiệt, mầy về nhà đi, ráng bỏ đi, còn trẻ lắm, uổng đời con ơi
- dạ
nó lầm lũi đi chiều ngược lại, vo vo tờ tiền trong tay, không biết nó nghĩ gì, cầu trời đủ cho nó hôm nay, đừng đi giựt đồ ai

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014

Sài Gòn, cơm tháng



Sài Gòn, cơm tháng

ai ăn cơm bình dân Sài Gòn chắc cũng biết chữ này, cơm tháng, đơn giản là ăn cơm chỗ nào đó một tháng, được đóng tiền trước hoặc giữa tháng, hoặc quen thì đóng sau cũng được… dần nó thành một thành ngữ, để chỉ thứ gì đó bình dân, quen thuộc, thân thiết dữ lắm, ừ cái hẻm đó tao ăn cơm tháng mấy năm trời, hoặc như, ai chớ bà Năm La hả, tao ăn cơm tháng nhà bả luôn… sinh viên càng phải biết chữ này, đời sinh viên khó khăn nên thường đóng trước tiền ăn nguyên tháng, rồi lấy cái phiếu, ăn bữa nào xé phiếu bữa đó.

cái lợi của cơm tháng là yên tâm, không lo đói nguyên tháng đó, lúc có tiền cứ trích tiền đóng tiền cơm tháng, rồi yên chí lớn. Sinh viên, dân lao động xích lô ba gác, dân bốc xếp, chợ búa mấy khu càng bình dân càng chuộng cơm tháng, đến bữa cứ ra ăn, chỗ dễ dãi quen biết cho chọn món thoải mái, cơm canh bao no còn tặng trái chuối ly trà đá, chỗ khó khăn thì qui định món được kêu, nhưng nói chung ai quan tâm, chỉ cần có cơm, có cái gì mằn mặn, yên bụng qua bữa là được. Cái bất lợi là phải ăn riết một chỗ, có đi đâu cũng ráng về chỗ quán cơm ruột mà ăn, vậy thôi.

có quán này, cơm bình dân, nghe kêu tên chị chủ, là quán chị Phượng. Quán chị bán cơm bình dân, một phần trong nhà và ba phần là ngoài hẻm, ghế bàn nhựa, chén dĩa cũng nhựa, ngoài lề đường thì che bậy bạ bằng mấy cây dù khuyến mãi, toàn thấy sinh viên, bán báo, vé số, xích lô, xe ôm vô ăn. Cơm chị Phượng nấu ngon, cơm không trắng nhưng gạo nở thơm phức, canh chua rau giá xanh um, cá lóc từng khứa hay cá rô mề nguyên con kho tộ đúng kiểu miền tây, cá trê chiên dòn mắm gừng hay canh cải thịt băm không thua mấy nhà hàng, trà đá để một bình lớn, sạch sẽ mát mẻ, một phần cơm có mười bảy ngàn, món nào mắc lắm chừng hai chục ngàn, giữa trung tâm Sài Gòn thì giá đó là quá rẻ, mà cơm tháng 30 ngày chỉ tính có 25 ngày thôi, ai mà không thích chớ.

buổi trưa buổi chiều khách đông lắm, chị Phượng luôn tay luôn miệng, mẹ chồng chị và đứa con gái lớn đi học về cũng ra phụ quyết liệt mà vẫn không ngớt việc, mấy khách cơm tháng phải vô phụ dọn bàn, dọn dĩa, tự múc cơm, múc canh… người cơm tháng nhiều quá, thành ra quen biết nhau hết, gặp nhao xôn xao, bữa nay chạy khá không mậy, sáng giờ được trăm vé chưa con, cô ba bữa nay mua trúng lô vỏ lon ngon lành hén… rào rào như cái chợ nhỏ, chị Phượng mặt đỏ phừng vì mệt vẫn chào hỏi, cười tươi với khách, anh Ba hết tháng rồi nha anh Ba, Tú ơi tháng này em dư hai bữa, để mai ăn luôn hay sao cưng ơi…

có quán này, cơm bình dân, là quán chị Phượng, chị Phượng chồng chết, có hai đứa con, gái lớn đâu mười sáu mười bảy, trai nhỏ mới chừng mười tuổi, đều đang tuổi ăn học, cái nhà quán cơm nhỏ xíu, chừng chục thươc vuông, được cái mặt tiền, chị mướn lại của người ta, bà chủ nhà thấy chị buôn bán không lời mấy nên coi như cho chị bán không, tính tháng có hai triệu với trả tiền điện nước thôi. Chị cất cái gác nhỏ, đem mẹ chồng về ở chung, mẹ con bà cháu có nhau. Mẹ chồng chị cũng già lắm rồi, chắc đã ngoài tám mươi, cũng hơi lẫn lẫn, gặp ai cũng nói, biểu con Phượng lấy chồng khác, đi bước nữa đi, mà nó hổng chịu, buôn bán một mình cực quá.

có bữa nọ, đâu hơn hai giờ chiều, chị Phượng lục đục dọn rồi mà có khách cơm tháng mới lừng lững đạp chiếc xích lô về ăn, chú Năm ơi đi đâu về trễ dữ, con hết đồ ăn, thôi chú ngồi đây con chiên bậy mấy cái trứng ăn nha chú. Chú Năm xích lô không đi một mình, ông chở theo một anh tây to béo, làm hai phần luôn cô Phượng, cho thằng này ăn với, tui bao nó, tính vô tháng cho tui. Anh chàng Tây có vẻ đói lắm, quất sạch dĩa cơm trứng chiên, trái chuối với ly trà, lúc nghe nói được ông Năm bao, nó cười ha hả, cám ôn cám ôn, xong ra, nó ra dấu biểu ông Năm ngồi lên xe, để nó đạp chở ông Năm đi.

chiều muộn ông Năm đạp xe xích lô không quay về hỏi, tui thiếu cô mấy tháng rồi cô Phượng, dạ có hơn hai tháng mấy, để con lật sổ coi, mà chú có tiền chưa, không có thì để lo tiền thuốc cho thím Năm đi chú ơi, chú cứ ăn rồi vài bữa có trả. Chú năm cười, đưa tờ trăm đô, cái thằng Tây đó, tưởng nó kẹo kéo, trả giá thấy ớn luôn, đi một vòng Sài Gòn mà nó trả có năm đô, vậy mà tui đãi nó dĩa cơm thôi, cái nó cho luôn một trăm đô, tui phải lật đật đi hỏi người ta, chớ sợ đô giả đó cô Phượng, thằng tốt bụng thiệt đó. Chị Phượng cười tươi, khách trong quán ai cũng ra cầm tờ trăm đô săm soi, cha Năm bữa nay trúng mánh quá, được hơn hai triệu bạc cuốc xe, ờ ờ, cô Phượng ơi, tui trả hết tiền cơm tháng, còn dư đãi bà con bữa chiều nay nha, được được chú Năm, bữa nay vui quá xá.


Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

Sài Gòn có thơm không?



Sài Gòn có thơm không?


1.
hôm qua tôi có việc đi qua quận 11, sáng sớm ăn cơm tấm rồi ngồi café cóc nhìn ngắm phố phường thời khắc rộn rã bắt đầu ngày mới. Có nhiều chuyện để kể trong một buổi sáng như vậy, ở Sài Gòn, tôi chỉ muốn tả lại khoảnh khắc mà tôi chạm vào, hòa vào nó, không sự kiện trong một khoảnh khắc nhiều, rất nhiều sự kiện
...
sáng sớm thì bao nhiêu hàng quán đồng loạt lục đục mở cửa, người ta gọi nhau, kiêng đồ ra lấn chiếm vỉa hè hoặc giả treo mấy tấm biển hiệu sờn cũ hoặc những thứ biểu tượng đặc trưng của nghề dịch vụ ở Sài Gòn, như cái vỏ xe cũ, cây thuốc rỗng, cục gạch bình xăng, cặp phuộc, cái niềng xe máy, cái bình bơm hơi, cái chìa khóa lớn bằng gỗ sơn xanh…vài người khác thì bưng đồ ăn sáng với ly café chạy tới chạy lui, băng qua băng lại con đường mỗi lúc một ken đặc xe cộ, giao chỗ này tính tiền chỗ nọ, tất tả. Những tiếng gọi đồ ăn hay café chen giữa tiếng xe máy rền rĩ khói, kiểu, sườn bì không mỡ hành nha, tíu mì dai giò gân nha, một đá ít đường một sữa tươi nhiều café… Rồi bên này đáp trả nghe, nghe, có liền có liền, hai ly này nữa là mười bốn ly rồi nha trả đi mày thằng quỉ, hết vốn với mầy luôn, chờ chút đi…Bên bàn kế bên tôi chị chủ quán café đang nói chuyện với một vị khách mới, tôi đoán anh nầy ở miền tây lên nuôi bịnh bên Chợ Rẫy, chị chủ quán vỗ vỗ vào cái bụng mình ra chiều hiểu biết, ra được hết máu bầm trong này là coi như khỏe được chín phần rồi, thôi cũng mừng cho anh… Anh nọ kêu thêm ba điếu con mèo và bấm gọi điện về nhà, em ơi người ta nói lấy ra được máu bầm là coi như đỡ được chín phần rồi, mừng quá…
...
nếu bạn không thích Sài Gòn, bạn sẽ vất vả với đoạn văn trên, kệ bạn chứ, còn nếu bạn thích thì tất cả là Sài Gòn, của Sài Gòn, tôi yêu những điều đó, vụn vặt và rối nùi, hỗn tạp và đậm đặc một thứ không khí chợ, kiểu chợ trời đó, nhưng mà thơm, thơm mùi người

...
2.
có bạn đọc (nhất là mấy bạn đồng hương) hay hỏi tôi, tại sao anh là người Hà Tĩnh/Phú Yên/Nha Trang mà lại yêu Sài Gòn nhiều như vậy, tôi đã trả lời riêng cho các bạn, nhưng cũng như tôi tự trả lời mình, tình yêu luôn không có lý do, nếu yêu mà cần lý do thì nó không phải là tình yêu
...
đối với nhiều người sống dịch chuyển du canh du cư qua nhiều nơi, như tôi, nếu ví mỗi vùng đất mình từng sống và từng yêu như một người phụ nữ trong đời mình, thì gốc gác là bà ngoại, nơi sinh ra như mẹ, nơi lớn lên như người tình đầu bé ba bé bảy nào đó, và Sài Gòn, Sài Gòn thì như vợ, một người vợ bị chồng con cơm áo cuốn trôi mất vẻ lãng mạn cần có của một người tình, nhưng là một người vợ luôn tần tảo, vị tha và là người chờ đón người đàn ông của mình sau những gì hắn tự cho là dời non lấp biển… và tiếc thay, Sài Gòn như một cô vợ như vậy, bị chính ông chồng mình, người mà mình đã tần tảo chăm lo phục vụ trong chừng ấy năm, luôn miệng chê già chê xấu, để rồi hắn ta mơ tưởng về bà ngoại hiền hòa, nhớ về mẹ ấm áp, luôn ngậm ngùi tiếc nuối với bé ba bé bảy đáng yêu của ngày xưa, hoặc mơ tưởng về những người mẫu chân dài ở xa xôi nào đó.
...
đoạn trên tôi mượn ý bạn Tư, trong “yêu người ngóng núi”, nhưng thực ra, theo tôi, Sài Gòn không có tính nữ, như một vài nơi khác, để bạn yêu, Sài Gòn có chăng là duyên nợ, thứ duyên nợ gắn liền cơm áo, giữa người ta với nhau, rất thực thà và rất đỗi con người


Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014

Sài Gòn, đời ba gác máy

Sài Gòn, đời ba gác máy

...
chở gì đó chú Hai ơi, hàng về đâu em chở anh Hai… à, có chở gì đâu, bị thấy mấy ông ăn cơm vui quá nên ghé chơi thôi, mèn ơi, cảm ơn anh Hai, tụi tui cơm lao động có gì vui anh Hai, toàn dân ba gác máy, cực thấy mẹ chớ vui gì

...
xe ba gác máy này nó có từ lâu rồi anh Hai, hồi tui còn nhỏ thì ba tui đã chạy xe này, chạy từ xích lô máy qua ba gác máy, rồi thời cuộc, gia đình lên xuống, bán đi rồi mua lại, độ lên độ xuống giờ nó thành ra vầy, chớ tui nhớ hồi xưa nó đẹp hơn. Mà ba tui, ổng cũng đã chạy ba gác máy từ lúc ổng còn trẻ, hồi đó chạy ba gác máy ngon nha anh Hai, một mình ba tui chạy, tuy cực lắm, nhưng mà nuôi mấy má con tui sống được, giờ tới tui thì hên xui, bữa đói bữa no, chỉ có điều mơi mốt tui không để mấy đứa nhỏ chạy, ráng cày cho tụi nó ăn học, mai mốt nó đi làm hãng sở, quần tây áo sơ mi cặp táp, cho có với người ta, đừng nắng mưa khổ cực như tui

...
ba gác máy này hả, khó chạy lắm anh Hai, chạy hổng quen leo lên là đụng tá lả, bị nó nặng lắm, nhứt là lúc chở hàng, bẻ cua là bẻ cả đống hàng trên xe, gặp hàng lớn, hàng nặng là phải bẻ cua bằng cả hai tay, hai chưn và luôn cái mình, chạy ngoài đường vừa côn vừa ga vừa số cực lắm, nhiều bữa chạy chục cây số về nhà ngủ không được luôn, bị nhức rêm hết mình mẩy. Còn nữa, giờ đường đông, xe máy chạy ẩu nên cũng dễ tai nạn, ba gác máy bị cấm cũng phải. Nhưng mà anh Hai nghĩ coi, dân mình nhà ở trong hẻm không, mà nhiều nhà hẻm sâu còn hai ba cái siệc, muốn sửa nhà, mua đồ, không có ba gác thì vô phương, nên cấm thì cấm mà chạy cũng còn chạy được. Có thời căng quá mấy ổng gom hết, phát cho mỗi nhà năm triệu đền, rồi cũng từ từ trả ra, giờ chạy thì hên xui, bị bắt coi như lỗ

...
tui cũng hổng biết kiếp trước làm gì nên tội mà giờ trời đày phải sanh nhai bằng cái ba gác máy này, thương cái xe mà cũng thương mình lắm anh Hai, bị đã có lịnh cấm nên suốt ngày giao thông, công chánh, trật tự, phường quận kể cả dân phòng… thằng nào cũng dòm ngó, hở chút là phạt hở chút là kêu lại… chở hàng thì bị đám xe tải nhỏ, xe trung quốc nó cạnh tranh phá giá sát rạt, gặp bữa hên còn kiếm hai ba trăm, còn gặp bữa dư một trăm đem về cho má sắp nhỏ là mừng rồi. Cái xe cùi bắp này thì chạy ba bữa sửa một bữa, ra đường còn đỡ chớ vô hẻm thì tiếng bô nó kêu ầm ĩ làm người ta ghét, người ta chửi tụi tui rát mặt rát mũi, có người còn xách nước tạt, cũng cắn răng mà chạy chớ sao giờ, hổng lẽ để tụi nhỏ đói, anh Hai nghĩ coi, phải hôn

...
ai cũng nói tụi tui giang hồ, đụng chuyện là chửi thề đánh lộn, nhưng mà làm nghề ngày, không hiền được anh Hai, tui nhìn tướng anh Hai tui biết anh Hai hiểu chuyện nên tui nói thiệt, làm cái nghề hạ bạc này, chỉ có mình với cái xe hàng chớ có ai hiểu đâu, trời nắng đu trên xe nó kiệt hết mồ hôi, trời mưa thì thà dầm mưa chớ đâu dám để hàng ướt. Chạy cả ngày kiếm trăm ngàn bạc đổ mồ hôi sôi nước mắt lắm anh Hai, quẹt vô cái xe hơi, đụng đít cái xe máy là mệt, gặp người dễ tánh bỏ qua, gặp thằng khó chịu chúng bắt thường, không cương thì bữa đó đói. Rồi chui chui ra chui vô mấy cái hẻm quận tư quận tám kiểu gì cũng đụng dân tình, rừng nào cọp đó, mình mà hiền coi như cũng thua, rồi đám xe trung quốc giờ tụi nó cũng đi thành băng, giá nào tụi nó cũng chở đặng giựt mối, mình ngồi im cũng coi như chốc mỏ. Anh Hai nghĩ coi, bị miếng cơm manh áo phải dữ dằn, anh em phải tựa lưng nhau mà sống, tụi tụi ở đây thằng ít cũng bị đòn hai ba bữa, thằng nhiều bị đuổi chém cả chục lần, cũng phải sống chớ anh Hai, chớ tụi tui cũng là con người, cũng vợ cũng con, dữ dằn với ai làm chi? đúng hôn anh Hai.

...
nói chuyện nãy giờ hổng hỏi thăm anh Hai đi đâu đây, cầm máy chụp hình đừng nói là nhà báo nha, mà phải nhà báo thì anh Hai nói tốt giùm tụi tui một tiếng, chớ đừng thấy tai nạn, tiếng ồn rồi báo chí nhao nhao, rồi hở là cấm hở là cấm, cái xe ba gác máy nó từng dựng lên cả cái Sài Gòn này, giờ muốn cấm, cũng làm sao coi cho được chớ. Tụi tui cũng muốn kiếm nghề khác mà làm, kiếm xe khác mà chạy chớ cũng đâu ai muốn cực khổ vầy.

...
ờ, nói đi cũng nói lại, vậy chớ cũng hên là nhiều bà con cô bác chủ hàng người ta còn thương lắm, có hàng là kêu mình, dù biết kêu taxi tải rẻ hơn, tiền bạc mối mang nên cũng đỡ, chịu khó khiêng lên khiêng xuống, đau lưng chút mà người ta cho tiền cafe... đó như cơm tụi tui ăn đây là bà chủ hàng bên kia, bả kêu cho đó chớ, chở hàng thì cha này chở mà cả đám được ăn cơm ké, tụi tui nói thiệt, mấy người sống tình nghĩa, trời không phụ lòng, phải hôn anh Hai



Thứ Năm, 25 tháng 9, 2014

"có người trả rồi"

..

"có người trả rồi"

ở Sài Gòn, thỉnh thoảng bạn đi ăn tiệm và lúc đứng lên móc bóp gọi tính tiền thì bạn nghe chủ quán nói, nãy có người/anh kia/chị kia... trả rồi, bạn khựng lại đôi chút, rồi cười. Đôi khi bạn biết người đã trả tiền cho mình vì nãy vào quán có nhận ra người quen hoặc nói đôi câu xã giao, nhưng cũng có lúc bạn chịu không nhớ ra là ai, bạn cố gắng hỏi chủ quán xem dung mạo người ấy thế nào, người ta có nói gì không, hỏi vậy thôi chớ dắt xe ra khỏi quán bạn cũng quên, người trả tiền cho bạn thì còn quên mau hơn, nhét cái bóp vô túi là họ quên, chủ quán cũng chẳng để ý đâu, mỗi ngày quán đó có hàng biết bao khách trả tiền qua lại kiểu đó, chuyện nhỏ mà.

tôi cũng có vài lần được trả tiền "giùm" kiểu đó, mới đầu tôi ngại lắm, cứ mang tâm lý biết ơn mãi, nhưng sau thấy cũng bình thường, thay vì cảm kích người đã trả tiền cho mình, tôi chọn cách của Sài Gòn, là trả tiền cho người khác nữa, vậy đi

thường thì việc "có người trả rồi" này chỉ dừng mức nho nhỏ như tô phở, ly cafe, dĩa cơm tấm... nhưng cũng có khi là chầu lẩu dê năm bảy người hay một bữa nhậu say ngoắc cần câu, dù số tiền trả là bao nhiêu thì nó cũng thành chuyện nhỏ, tôi chắc là không ai nhớ, người được trả không nhắc, người trả cũng không kể, chuyện chỉ có Sài Gòn và ông chủ quán biết mà thôi.

có điều hay, như một cái luật, ở Sài Gòn, là người chủ quán không bao giờ ăn gian số tiền đó, ví như, nếu người chủ quán nhận tiền của người trả giùm mà lát sau vẫn ra tính tiền của người được trả thì đâu ai biết nè, nhưng mà không có, ở Sài Gòn thì không có chuyện đó, chỉ là nụ cười đẫm mồ hôi dầu mỡ và cái khoát tay, bàn này có người tính tiền rồi.



Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

lựa chọn ký ức



lựa chọn ký ức


1.

năm 2012, lúc đi dọc Trường Sơn, ở cuối một chân đèo heo hút, cách cầu Dak’rong tầm mười mấy cây số về phía nam, chúng tôi có ghé vào một bản vắng chơi, bản làng toàn những ngôi nhà sàn xinh xắn, trên dành cho người ở, phía dưới là trâu bò nuôi. Bản có lẽ được tái định cư lại từ một bản làng nằm sâu trong rừng. Bản rất vắng, mọi người có lẽ đi nương đi rẫy chưa về, chúng tôi chỉ gặp bọn con nít và một bà già người dân tộc, có lẽ là người Pako, bà mời chúng tôi đến nhà chơi. Trong nhà bà có một người đang nằm, khi thấy có khách vẫn cố lết ra ngoài bậu cửa.

bà già người dân tộc ngậm cái tẩu thuốc, phì phà khói trong sương chiều của núi rừng Trường Sơn lộng lẫy, cười nói, bọn mày vào nhà chơi đi, đừng ngại, đó là thằng chồng tao, nó bị ốm, nằm đó đã mười năm, nó không biết gì nữa đâu, làng bảo tao giết nó đi, nhưng tao vẫn nuôi nó, vì nó là chồng tao, vì nó từng là người thợ săn giỏi nhất núi rừng này, vì nó đã từng yêu tao… khi nói về “thằng chồng”, tôi thấy đôi mắt bà lấp lánh sau màn khói mờ ảo


2.
dạo này, mỗi khi ăn tiệm, chúng tôi rất thích ăn ở nhà hàng Al-Fresco’s, đó là một trong chuỗi nhà hàng kiểu Ý, với các món ăn tây nhưng rất hợp khẩu vị Việt Nam, bạn vợ thì thích các món ăn và phong cách phục vụ của nhà hàng, còn tôi, tôi thích ngồi coi mấy clip PR thương hiệu Al-Fresco’s. Những clip ngắn, rất dễ thương, được quay đẹp với kịch bản là những câu chuyện kiểu như “chicken Soup for the Soul”, lồng ghép thương hiệu của nhà hàng rất khéo léo và đầy nhân văn.

một câu chuyện trong clip kể về một chàng trai giao hàng của nhà hàng, ngày nào sau khi làm việc xong đều mua một cái bánh pizza đem đến tặng bạn gái, hay đúng hơn là một cô gái đã từng là bạn gái, vì sau khi bị tai nạn, cô gái đã mất trí nhớ. Khi người quản lý hỏi chàng trai, tại sao em vẫn tặng bánh cho cô ấy khi cô ấy không còn nhớ em là ai? Chàng trai bình thản trả lời, cô ấy không còn nhớ em là ai, nhưng em thì có


3.
vợ chồng bạn tôi chia tay, âu cũng chuyện thường tình, hết duyên hết nợ thôi, dù cũng đã yêu nhau hai mươi năm, nhưng tôi luôn thích cách bạn nói về vợ của mình, bạn luôn kể về cô ấy như một người vợ hiền, một người dâu thảo, một người mẹ hoàn hảo, một người yêu tuyệt vời, như không thể thay thế. Tất nhiên có những điều khiến họ chia tay, nhưng bạn quên rồi, bạn không nhớ nữa. Trong bạn chỉ còn những điều tốt đẹp, những ký ức đẹp, để nhớ về nhau.

tất nhiên không phải ai cũng như bạn tôi, quá khứ như một vết sẹo, người ta thường nhớ về nỗi đau do nó gây ra hơn là những điều tốt đẹp mà nó đã từng. Một ngày có hai mươi bốn giờ, một tháng có ba mươi ngày, một năm có mười hai tháng… và nhiều năm như vậy trong đời, nhưng người ta chỉ có xu hướng nhớ khoảnh khắc mà người ta đau buồn, còn bao khoảnh khắc khác, những niềm vui, sự hân hoan và tình yêu thương trong từng khoảnh khắc khác, sẽ bị nỗi buồn, như một đám mây đen, lấp mất.


4.
đêm qua đi uống bia, gặp nghệ sĩ Thương Tín, bạn vợ mừng lắm, lăng xăng kiếm giấy bút xin chữ ký và xin chụp hình chung, bạn thần tượng anh Thương Tín, dù bây giờ anh không còn là một gương mặt xine ngày nào. Anh Thương Tín rất xúc động, rất vui, anh nói thầm với tôi trong lúc cúi xuống ký tặng, nghệ sĩ già tụi anh, giờ chỉ sống bằng ký ức người mộ điệu

sáng nay café, chúng tôi nói tiếp về Thương Tín, chúng tôi kể những vai diễn của ông, hình ảnh người lính trở về trong Bài Ca Không Quên, anh Sáu Tâm trong Biệt Động Sài Gòn, nụ cười kiêu bạc của tướng cướp Bạch Hải Đường… người ta có thể kể nhiều thứ khác, những điều không hay ho lắm, về Thương Tín, nhưng chúng tôi quên rồi, chúng tôi chỉ nhớ rằng đó là một người nghệ sĩ tài hoa, một diễn viên huyền thoại, và thần tượng của chúng tôi



5.
bạn không thể chọn gia đình,không thể chọn quê hương, không thể chọn những gì xảy ra trong cuộc đời mình, nhưng bạn có thể lựa chọn để nhớ về tất cả những điều đó, với nhiều tình yêu hơn.

bạn có thể nhớ về cha mẹ như những người đã đánh đòn bạn, họ già cả và trái tính trái nết, đôi lúc khó khăn đến khắc nghiệt… và bạn cũng có thể chọn để nhớ về cha mẹ, như những người, gần như duy nhất trên hành tinh nầy đã luôn yêu thương, chăm sóc và hy sinh tất cả cho bạn, vô điều kiện. Bạn có thể nhớ về Sài Gòn như một chốn xô bồ, đầy kẹt xe, bụi bặm, cướp giật, xì ke và lừa lọc… hoặc bạn cũng có thể chọn nhớ về Sài Gòn như mảnh đất đã cưu mang mười triệu con người, mảnh đất của tình nghĩa, phóng khoáng và hào hiệp

bạn được quyền lựa chọn ký ức mà, hãy chọn ký ức đẹp















Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

mối tình thằng Mực,



...

mối tình thằng Mực,

không ai biết tên thiệt của nó, chỉ kêu bằng thằng Mực, thằng Mực đã hai tám tuổi, gần đến tam thập nhi lập mà chưa có mối tình lận lưng, hỏi nó mầy có thương ai không, nó cười ha hả, nói có chớ có chớ, nhưng mà thương để bụng, đặng rồi đi ca cho ngọt giọng thôi, chớ ai mà thèm thương em anh Hai. Thằng Mực quê miệt Cà Mau, nó lên Sài Gòn hơn chục năm, theo một anh trong xóm làm lơ xe tải, chuyên chở nước đá, nói lơ xe nghe cho nó xôm tụ chớ thực ra thằng Mực chỉ làm công việc vác nước đá từ nhà bô lên xe, vác nước đá trên xe xuống xe giao cho quán café, nhà hàng, vậy thôi, rảnh rỗi nó cũng tập lái xe nhưng mà chưa có bằng. Làm nghề lao động nên thằng Mực rắn chắc, đen trũi, hàm răng sáng bóng, nụ cười hiền lành, mỗi tội nó nghèo quá

hỏi sao kêu tên Mực, nó nói ông nội nó kêu vậy, bị dân miền biển mà, hồi nhỏ nó đen thùi như con chó mực, chạy lẫm chẫm ngoài bãi chờ ghe của ba nó về, dân tình kêu chết tên Mực. Lớn chút nữa, lúc nó có ba đứa em nhỏ thì cha nó đi biển rồi không bao giờ trở về trong cơn bão số năm, kêu bằng bão Linda đó anh Hai, nhà cửa bị bão cuốn hết, má nó muốn điên dại luôn, ông nội nói đời mày khổ quá, đen như mực thiệt. Rồi ông nội nó cũng cất được lại cái nhà, đưa mấy má con nó về ở, được mấy năm thì ông nội nó cũng chết, nó đành bỏ học, cùng với má nó thành lao động chính, nuôi mấy đứa em ăn học tiếp.

thằng Mực nói, em làm nhiêu tiền gửi về quê phụ má, má em giờ già đau bịnh triền miên, mấy đứa em cũng lớn cũng biết chuyện, bữa đi học bữa đi làm nên cũng đỡ lo rồi, có con em gái kế học kế toán ra mà giờ làm lương còn thua em đi lơ xe, rồi lấy chồng đẻ con nên cũng hổng có dư tiền cho má, chủ yếu em lo, thành ra coi vậy chớ có đâu dư đồng nào mà tính chuyện bồ bịch anh Hai. Cũng may thằng Mực hiền lành nên ai cũng thương, nhứt là mấy cô mấy chú chủ hàng, đi giao nước đá người ta cho ly café, mấy điếu thuốc, thi thoảng cho cái áo cái quần mới mua bận hổng vừa hay cho năm ba chục tiền ăn cơm, có người cho tờ vé số chiều dò trật lất mà cũng vui.

mới đây hỏi nó, mầy nói thiệt coi giờ mầy đang thương ai, nó cười một hồi rồi nói nó thương con nhỏ kia, tạm kêu bằng con Gái, con Gái phụ bán café ở chỗ nó hay giao nước đá bên quận tám. Con Gái là cháu kêu bà chủ quán bằng cô, quê đâu ngoài miệt ngoài, ngoài Quảng đó anh Hai, nghe vậy thôi em có đi đâu tới ngoải mà biết. Con Gái cũng có cảm tình với Mực, hai đứa có nhắn tin qua lại cả tháng trời, nhưng mà chưa có đi chơi chưa có hẹn hò gì hết, chỉ là chòng ghẹo qua lại. Đùng cái thằng Mực bị đổ oan. Bữa đó nó vác bao nước đá vô quán rồi hổng chịu đi ra liền mà đứng nói chuyện với con Gái một hồi, lát sau bà chủ quán kêu mất cái điện thoại mười mấy triệu, mới để trên bàn lúc thằng Mực đứng đó, quán vắng, thằng Mực không lấy thì ai vô đây, hổng lẽ ma lấy. Bà chủ quán kêu anh chủ xe vô chửi sa sả, nói từ rày đừng ghé đây nữa, vậy là mất luôn mối đó, mất luôn cả tháng tiền hàng, anh chủ xe nói thằng Mực thôi bỏ đi, tao biết mầy không lấy, nhưng mà xui xẻo phải chịu, coi như tai nạn thôi, ai biết được.

bữa sau gặp nó, nói anh Hai chỉ em cái này chút, chỉ em cách cài phây búc vô điện thoại đi anh Hai, ớn thần hông, lơ xe mà bày đặt mậy, nó cười nói hổng có, tại bị đuổi nên hông có gặp con Gái thường, nhớ quá mới mua cái điện thoại này hết triệu rưởi bạc, nghe nói cái phây búc, cái ngày nào cũng nhìn thấy nhau, nói chuyện với nhau mà hổng tốn nhiều tiền, ừ, chỉ mầy luôn, được cái thằng Mực ít học chớ hiểu lẹ, chỉ chút biết liền, có điều nó đọc được mà viết dở ẹc, nửa tháng trời nó mới viết một câu cho ra hồn mà cũng năm bảy lỗi chánh tả. Sau nó đưa hình con Gái coi, thấy cũng được, mặt mũi sáng sủa, người hơi thấp nhưng mà nhìn dễ thương, mới chọc nó, ê mầy, có ghệ đẹp ráng giữ nghe, nó cười hớn hớn.

rồi thằng Mực cũng được minh oan, bà chủ quán gọi cho anh chủ xe, nói bắt được ăn trộm rồi, là con nhỏ chạy bàn làm chung với con Gái, bị khách vô uống café mất thêm cái điện thoại nữa, bà chủ quán để ý mới lục đồ nó, bắt tại trận, nó nhận là hồi đó nó chôm điện thoại bả chớ hổng phải thằng Mực. Bà chủ quán kêu lên xin lỗi, nói tui thiệt mang tội quá, cho tui trả tiền hàng rồi kêu chở hàng lại như cũ, cho thằng Mực với con Gái én nhạn gặp nhau, rảnh rỗi còn cho tiền hai đứa đi chơi, vô Đồng Diều chơi thôi.

...
sáng nay gặp thằng Mực chở con Gái, nó nói qua tuần rảnh đi ăn đám cưới em nghe anh Hai, giỡn thiệt mậy, nói thiệt, cũng hổng có tiền làm đám nhưng mà mỗi người cho một chút nên coi như có cái đám cưới, cũng đãi người quen với bà con thôi anh Hai, bà chủ quán nói cho tiền trang điểm áo cưới album chụp hình, do em bả có cái tiệm áo cưới gần đó, rồi cưới xong chủ quán cho hai đứa ở cái phòng trên gác của quán luôn, đỡ tốn tiền nhà trọ, anh chủ xe cho hai chục triệu mua sắm đồ lễ và đãi cơm dưới Cà Mau, chị chủ nhà hàng bên Đồng Diều nói đãi mười bàn chỉ tính tiền chợ thôi, tiền nhà hàng, tiền phục vụ coi như mấy anh em góp một tay, bia thì có vựa bia quen lấy giá vốn, nước đá đề bô tặng mười bao, mấy anh tài xế xe du lịch quen hứa cho mượn xe đưa dâu về tới Cà Mau, chỉ đổ tiền xăng thôi… thằng Mực kể một thôi một hồi, nói em mừng quá anh Hai, bàn tay gân guốc cầm chặt bàn tay nhỏ nhắn của con Gái, nụ cười trắng bóc trên gương mặt đen sạm, như mực, của nó.

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

di chúc



đó là xe mì gõ thuộc thế hệ đầu tiên, thời mà tiếng gõ còn phát ra từ một thanh tre đực bóng lưỡn, tiếng gõ nghe nho nhỏ thôi nhưng đanh gọn, mời gọi và vang xa, chứ không ồn ào như tiếng gõ của thanh nhôm bây giờ, thời mà cả người bán và người ăn mì biết nhau có lẽ đã gần nửa đời. Hai vợ chồng Sáu Quảng bán mì gõ đều không phải dân hẻm, cứ mỗi buổi chiều, tầm 6 giờ, thì lục đục dọn hàng đến, đến nửa đêm lại lặng lẽ dọn về, về đâu không rõ.

mì gõ Sáu Quảng có đâu chừng ba, bốn cái bàn, thực chất là cái vỉa hè duy nhất của hẻm, ngay trước một căn nhà có phía trước rộng rãi, của một bà lão, bà giáo Ba, người được cho là cư dân lâu đời nhất ở đây, tất cả cư dân hẻm đều xác nhận khi họ đến đây ở đã có nhà giáo Ba ở đó rồi. Trời mát thì quán bày bàn ghế nhiều hơn, trời mưa thì ít hơn, căng đỡ tấm bạt với cây dù, hủ tíu cũng có mà mì cũng có, mì xương, mì thịt và mì lòng, giá cả bình dân. Mì gõ Sáu Quảng chủ yếu là bưng đi khắp nơi, bưng hết thảy nhà trong hẻm, bưng cho mấy hẻm gần đó, hoặc cho mấy cửa hàng ngoài mặt lộ, cả xe ôm và sửa xe ở ngã tư, ai có tiền trả liền, không có cứ để đó, lâu lâu trả một lần, nhớ bao nhiêu trả bao nhiêu, chủ khách chẳng bao giờ đôi co, miễn nhớ trả tô trả muỗng giùm, lỡ làm bể cũng không sao luôn. Vợ chồng Sáu Quang lúc nào cũng cười.


hết tháng lại năm, Sài Gòn rộn rã, nhà Sáu Quảng vẫn bán xe mì gõ trước nhà của bà giáo Ba, một mảnh đất khá lớn, bề ngang tầm hai mấy mét sâu vô cũng vậy. Bà giáo ở với vợ chồng cô Út, còn 3 người con trai đã ở riêng, phần có lẽ do kinh tế cũng không đến nỗi, phần do ai cũng đồn đoán bà giáo Ba khó tánh, dâu con chịu đời không xiết. Mà có lẽ ba giáo khó tánh thiệt, thấy vợ chồng cô Út cũng ít nói chuyện với bà giáo, sáng đi tối về thinh lặng, trông bà lúc nào cũng cô đơn khắc khoải, cheo leo mình ên, ban ngày bà loanh quan trong vườn, buổi tối bà làm bạn với vợ chồng Sáu Quảng, lúc đông khách bà còn phụ bưng bê, dọn dẹp. Bà gọi vợ chồng Sáu Quảng là con, còn vợ chồng dĩ nhiên kêu bằng má, má Ba. Sau này vợ chồng Sáu Quảng gửi luôn đồ nghề trong sân nhà bà giáo Ba, dọn hàng xong vợ chồng chở nhau trên chiếc xe máy cà tàng về.

...

chuyện vậy thôi, ai mà sống đời được, bà giáo Ba đến lúc cũng qua đời, sau đám tang rình rang của bà giáo Ba thì đến màn di chúc, màn này được chờ đợi nhất bởi căn nhà bây giờ là cả một gia tài lớn, rất lớn. Di chúc bà giáo Ba chia mảnh đất thành 5 phần đều nhau, cho 4 người con và 1 phần cho nhà Sáu Quảng.

người khó ở nói vợ chồng Sáu Quảng gặp may, còn hơn trúng số, người biết điều nói không phải, tao như bà giáo Ba tao cũng cho vợ chồng nó, đất đai mà, chết có mang xuống dưới được đâu.


Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2014

được

được

1.
lần đầu đi miền tây dài ngày là năm 93~94 gì đó, hổng nhớ, là về Mộc Hóa, về nhà Nhựt chơi, ở dưới đó hơn tuần mà nhậu triền miên khói lửa tàn canh gió lộng, hầu như không khi nào tỉnh. Mộc Hóa là một huyện xa của Long An nhưng lại nằm trong vùng Đồng Tháp Mười, giáp sông Vàm Cỏ huyền thoại và có chợ biên giới với Cam. Thị trấn nhỏ xíu, có thằng miền trung vô như có khách quí, nhà nào cũng kéo qua kéo lợi, cá đồng chim chuột rắn rít điên điển so đũa có gì ngon đều đem ra thết đãi. Nhớ Nhựt có thằng bạn, tên Khanh, thằng này sau làm Công An, dễ thương lắm, có nụ cười hiền queo, thích nhứt là nó luôn nói "được", "êm", "bén" và "dịu", quán nầy được, gụ nầy êm, mồi nầy bén, em kia coi dịu quá . Khanh giải thích là ở đây, ở miền tây, người ta không có thói quen khen chê nặng lời, nên ít dùng chữ sách vở như tuyệt vời - tốt - xuất sắc- ngon - đẹp - xấu - dở - tệ..., ở đây người ta chỉ nói được hay hổng được, êm hay hổng êm, bén hay hổng bén, ngon lành hay hổng ngon lành... có gì dữ lắm thì thêm chứ quá, quá được, quá bén, quá êm, quá dịu... vậy thôi.

2.
sau nầy, đến đầu năm 96 về miền tây làm hãng xe, có mấy đứa trong hãng nó cũng khoái, chiều tối nào cũng kéo đi, không về nhà thì ra quán bình dân, bia bơm rượu bình suốt. Có lần gặp một bác nọ, là ba của thằng nhân viên, ông tên Được, Ba Được nhà ở Thốt Nốt, cũng ngang sông, nhà tuy nông dân nhưng cũng khá hiện đại, hiểu biết lắm, mới mời về nhà chơi, ra bờ sông uống rượu với canh chua lá me cá chốt, cá chốt sông con nửa cùm tay thịt trắng phau nấu với lá me non xanh rờn ăn với mắm nhĩ dằm ớt đỏ, uống rượu trắng... ta nói, thần sầu quỉ khốc với món canh nầy. Ngồi chơi, nói chuyện đến tàn cuộc rượu, thì Ba Được nói, thằng Hai, mầy được lắm. Mới hỏi lại là bác nói vậy là bác khen hay bác chê con, ổng mới cười lớn, tao nói mầy được là được chớ khen chê gì đâu

3.
sau nầy nữa, làm rể miền tây, rồi đi nhiều nơi, đi khắp miền tây, đi chơi uống rượu với đủ người, mới thiệt hiểu ra, được hay hổng được, êm hay hổng êm, là không khen cũng hổng chê, là nhân gian nói thôi, được chưa chắc đã tốt, hổng êm chưa chắc đã xấu, có thằng ăn cướp giết người mà người ta nói thằng đó được, cũng có thằng học hành đàng hoàng làm ông nọ bà kia mà người ta nói, thằng đó hổng được, làm điều gì đó mà người ta hỏi, mầy làm vậy coi được hông?, mầy thấy hổng được, hổng êm thì đừng làm, chứ không ai nói sai, nói trái chi đâu. Riết rồi không rõ cái gì được cái gì hổng được, bởi nó không có luật, bị nó đo bằng tấm lòng mà

4.
được, như một thứ tiêu chí chứng nhận mơ hồ nào đó, của tấm lòng, của người miền tây, di truyền từ thủa khai hoang mở cõi, thời chưa có luật pháp, người ta phải cư xử với nhau bằng tình nghĩa, và được, là chữ dùng cho người ở lại, với nhau, vượt qua lề lối, vượt qua khó khăn, để sống với nhau, sống được chơi được làm được, nhiều khi chỉ cần biết cầm cái ly ngửa cổ uống nghe cái ót, là được

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

có mất gì đâu

có mất gì đâu

đứng bóng, trời nắng, ở một ngã tư quận 10, đường lớn, tuy không đông nhưng xe cộ chạy khá nhanh, hai góc đường đều có hai ông xe ôm, cả hai đều đưa ngón trỏ lên trời khi thấy bất cứ khách bộ hành nào, thay cho câu rao, xe ôm đây, nhưng người trẻ hơn thì dõi mắt về phía khác của ngã tư, góc có phần đông đúc hơn,

- anh ơi, cho về chợ Pham Văn Hai
- rồi, cho em hai chục nha
- được, đi
- anh hai có gấp hôn? chờ em hai phút được hôn?
- được, đón khách nữa hả
- hông có, chờ em chút, nè đội nón trước đi

lúc này anh mới nhìn gã xe ôm, gã có lẽ trẻ hơn anh, chắc mới ngoài ba mươi, nước da đen bóng, bám vào khuôn mặt xương xương, giọng nói khàn khàn nhưng ánh mắt và điệu bộ tươi vui, lém lỉnh, vừa cài quai nón cho anh gã vừa nói, chờ em chút nha, em đợi coi thằng mù kia nó đi hướng nào.

từ hướng gã xe ôm khoát tay, xa phía góc kia ngã tư, có một người mù, một chàng trai không có tròng mắt trên vẻ mặt khá điển trai, với xấp vé số và cây gậy trên tay đang lò dò tới, đến gần lề đường thì người này dừng lại, đưa cây gậy đang cầm lên quá đầu, hướng về phía gã xe ôm.

nhanh như thoắt, chỉ bằng chục cái sải chưn, gã xe ôm đã có mặt phía bên kia ngã tư, một tay nắm khuỷu tay của chàng trai mù, một tay đưa ra khoát về hướng dòng xe máy đang lưu thông về hướng hai người bọn họ, như cách người ta dùng mái chèo rẽ nước, gã dẫn chàng trai mù băng qua ngã tư
qua đến đầu này, gã buông tay chàng trai rồi bật lên yên xe, vừa đẩy vừa đề, đưa cái xe nổ máy xuống lề đường, đi, anh hai.

Anh hỏi, mày hay dẫn người ta qua đường hả, gã cười, dạ, em ở đây, ai cần thì mình giúp, mấy bà già, mấy đứa nhỏ, người mù, ai sợ qua đường thì em hay dẫn phụ, bị chỗ này xe chạy lẹ quá, nhiều người ở quê lên đây khám bịnh ở bịnh viện ra hay mấy bà già là chịu chết, không dám bước qua luôn, mình phải lại dẫn người ta mới yên tâm

anh khen, ừ, làm vậy phải đó, chú thiệt là tốt bụng, gã cười lớn, em xe ôm mà, tốt bụng gì đâu anh hai, bà con mình không hà, phụ được gì thì làm thôi, có mất gì đâu, phớ hôn anh hai

Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014

phước

...

đó là một quán hủ tíu, bình thường như bao quán hủ tíu khác, ở Sài Gòn, có khác chăng là quán trông có vẻ sang trọng hơn tấm biển “hủ tíu bình dân 20.000đ”, quán chiếm trọn một khoảng sân của một ngôi biệt thự lớn, chỉ bán buổi sáng, khách rất đông, xe dựng tràn cả vỉa hè phía trước và bên hông, quán sạch, bàn ghế gỗ, tô dĩa sành màu trắng, đũa gỗ hồng và muỗng inox sáng tinh, rau xanh giá tươi nhìn bắt mắt, đông khách cũng phải

quán có rất đông người phục vụ, buổi sáng trời chưa tỏ đã có người đến, phụ chủ quán bày biện bàn ghế, sắp xếp gia vị, nhóm lửa bắc nồi xách nước, xắt thịt soạn giá rửa rau… người đến trễ hơn thì phụ coi xe, dẫn xe cho khách, dọn dẹp, rửa tô, lau khô, chạy bàn, tính tiền... người đến trễ nữa thì phụ dọn bàn ghế, rửa nồi, xếp lại lại tô chén, lau chùi cái sân cho sạch sẽ…

quán có rất đông người phục vụ, người chạy bàn thường là những người lớn tuổi, khách đến, họ ra lau bàn, hỏi khách dùng chi, xương nạc giò hay bò viên, rau giá hành ngò tiêu ớt thế nào, rồi vô báo lại cho chủ quán, chờ làm xong thì bưng ra bàn cho khách, đi phục vụ bàn khác. Khi khách dùng xong, họ lại đến bưng đi, dọn dẹp, rồi nhẹ nhàng rút xấp vé số ra mời khách mua, khách mua hay không thì họ cũng cảm ơn, tiễn khách trịnh trọng

quán có rất đông người phục vụ, có người lớn tuổi, có người tàn tật, có cả phụ nữ ẵm con nhỏ, nhiều người nói nhiều giọng, giọng bắc, giọng quảng, giọng nẫu, giọng huế, giọng miền tây… tuần tự ai đến lúc nào vô phụ việc lúc đó, ai mạnh làm nhiều ai yếu làm ít… tuần tự ai cũng được đãi một tô hủ tíu tú nụ, ai thích gì ăn nấy, tự lấy cho mình cũng được, dĩ nhiên là miễn phí, ai cũng được chủ quán han hỏi, cảm ơn chu đáo, ai làm xong ăn xong thì tản ra đi làm việc của mình, bởi họ là những người bán vé số, mua ve chai phế liệu hay xích lô ba gác… lòng vòng Sài Gòn.

quán đông khách lắm, hủ tíu ngon người ta mới ăn đông, khách gần đó có, khách từ xa tới có, khách đi SH, @ cũng có mà khách đi xe đạp, xe thồ cũng có, ai cũng được đối đãi lịch sự, vui vẻ. Mấy đứa sinh viên trọ học gần đó chỉ cần trả mười ngàn là cũng có một tô hủ tíu ngon lành, y chang người ta, đứa nào ốm yếu hay đến mùa thi còn có thêm cục giò, cục thịt, ăn cho khỏe có sức vóc học hành, mấy ông già xích lô, ba gác, ăn xong còn xin bịch nước lèo với cục xương hay mấy viên bò viên, đặng buổi trưa mua hộp cơm không chan vô ăn, cũng ngon lành… ai có tiền trả, ai không có thì đưa năm bảy ngàn, kẹt nữa cứ ăn thiếu, rồi có thì trả, không thì thôi, không ai kể.

hai ông bà chủ quán cũng già lắm rồi, đã gần tám mươi, nghe nói cả đời lam lũ. Căn biệt thự của quán hủ tíu là nhà con trai cả của ông bà, ông bà có năm người con, năm người này hằng tháng đều phải góp vốn vô xe hủ tíu, để ông bà buôn bán cho vui tuổi già.

hai ông bà chủ quán cũng già lắm rồi, ông bà có năm người con, ai nấy đều giàu có sang trọng thành đạt xe hơi nhà lầu, cháu nội ngoại của ông bà gần chục đứa, trai thời đều khôi ngô tuấn tú, gái thời xinh đẹp giỏi giang, đứa nào cũng ngoan hiền lễ phép, đứa nào cũng thông tuệ sáng sáng… người ta nói bọn nhỏ hưởng phước của ông bà, từ cái quán hủ tíu, bán buôn cái tình, ở Sài Gòn

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

bạn giàu,



bạn giàu,

nhận lời thằng bạn xưa, thằng Tâm, ba thằng ở Sài Gòn hẹn nhau đi thăm nó, nhà Tâm ở một huyện miền núi, cũng xa, nên ba thằng bàn nhau thuê cái xe, sáng đi tối về.

tới nơi mới biết Tâm giờ là một quan chức to ở huyện, thấy Tâm giàu quá, ba thằng tròn cả mắt, nhà cửa nguy nga như lâu đài, có cả hồ bơi, vườn kiểng, ao cá... Tâm dắt ba đứa đi giới thiệu mà giọng không giấu vẻ khoe khoang về tiền muôn bạc tỉ của nó. Khoe xong, biết bạn cũng đói, Tâm dẫn cả đám ra cái nhà hàng sang nhất huyện, ăn nhậu gọi toàn rượu tây đặc sản. Ba thằng bạn tiếc tiền, bảo gọi vừa thôi, chi tốn kém, Tâm cười ha hả, không lo không lo... Ăn nhậu đến chiều thì Tâm a lô cho một ai đó, là giám đốc một công ty xây dựng đến, gã giám đốc nọ sau màn chào hỏi xong thì kêu tính tiền rồi kiếu về, trả đâu hết gần hai chục triệu

trên đường về ba đứa cứ khen thằng Tâm giàu. Đi chừng hai chục cây số thì cái xe thuê trở chứng, khịch khịch rồi nằm luôn, đúng giữa khúc đường vắng, anh tài xế loay hoay sửa không được đành gọi cứu hộ từ Sài Gòn lên kéo xe về. Trời tối, đường vắng, may mà gần đó có quán tạp hoá nhỏ, ba thằng vô đó ngồi chờ. Quán lá nghèo nàn, vợ chồng anh Tư chủ quán vui vẻ, đến tối bèn bắt con gà sau vườn nấu nồi cháo đãi ba vị khách lỡ đường. Ngồi nói chuyện mới biết anh chị Tư là dân Kiên Giang, lên đây làm mướn rồi lấy nhau, mua đất, rồi nhờ chòm xóm góp sức cất được cái quán, vợ bán tạp hoá còn chồng sửa xe bơm vá, đủ sống, dù hơi nghèo nàn. Chuyện trò mãi, vợ chồng anh Tư và ba vị khách lỡ đường làm hết chai rượu trắng và nồi cháo gà ngon nhứt trần đời

xe taxi và xe kéo mãi đến gần nửa đêm mới tới, ba thằng đòi gửi tiền nồi cháo mà anh chị Tư nhứt quyết không nhận, anh Tư khoát tay, bữa khác rủi tui lỡ đường, mấy anh cũng cho tui ăn vậy, có gì mà tiền bạc chứ

lên xe, ngấm rượu, không biết đứa nào nói trước, ê, tao thấy anh Tư giàu hơn thằng Tâm bây, cả ba cùng gật, ờ, đúng vậy

đàn cò trắng sang sông

đàn cò trắng sang sông

1.
mới đây, hai vợ chồng đang từ miền tây về, đi ngang sông Vàm Cỏ lúc trời chiều chạng vạng, sương là đà phủ, mặt sông lục bình trôi xanh, bỗng thấy một đàn cò trắng dễ đến trăm con, đương bay sang sông. Đó là một cảnh tượng đẹp lộng lẫy, dĩ nhiên tôi không kịp lấy máy ảnh vì chạy xe trên đường cao tốc, nhưng cảnh tượng đó đã được lưu vào tâm trí tôi, như những cảnh tượng lộng lẫy khác mà tôi từng chứng kiến, như hai cái cầu vồng rực rỡ sau cơn giông biển ở Phan Rí Cửa, như đồi lau trắng bạt ngàn lúc uống rượu với A Khuê ở Đồng Xoài, như nửa đêm trăng lên đứng nhìn biển mây bồng bềnh trên đỉnh đèo Hải Vân....

2.
hôm rồi coi một cái phim, hình như là Blue Lagoon, The Awakening, phim cũng tầm thường, chỉ nhớ một cảnh, lúc hai bạn trẻ mới lạc lên đảo, họ vô tình đến một cái thác nước thật đẹp, chàng trai rủ cô gái chụp hình và tắm, nhưng cô gái chỉ muốn đi tìm khách sạn, đó là một cô gái nghiêm túc với ước mơ đậu vào đại học, hình như là Princeton . Chàng trai nói: cậu có biết có bao nhiêu người đậu vào trướng đó không? nhiều lắm. Còn có bao nhiêu người nhìn thấy thác nước đẹp này? Chỉ có chúng ta.

3.
nhiều người hỏi tôi, sao không đi chỗ này, sao không đi chỗ kia, ngắm hoa đào nở ở Nhựt Bổn, hay nhìn tuyết rơi ở Nữu Ước... tôi không có điều kiện để đi khắp thế gian đâu, mà tôi cần chi đi khắp thế gian, khi chỉ cần ra khỏi thành phố là gặp cảnh một đàn cò trắng sang sông, hay cảnh những chái nhà nhấp nhô trong biển lúa, hay nắng tỏa khói đốt đồng chiều... những cảnh lộng lẫy như thế.

4.
đôi khi chúng ta tự dằn vặt mình với thứ mà chúng ta không có được, mà không trân trọng thứ mình đang có. Ta không thể có mọi thứ, người á châu muốn có sự văn minh của người âu châu, người âu châu thèm sự phóng khoáng của dân phi châu...

5.
hãy nhớ rằng ta không thể có mọi thứ

Sài Gòn: một chuyện chép ở bịnh viện

Sài Gòn: một chuyện chép ở bịnh viện

- cô ơi bán cho hộp cơm không, cho xin bịch nước tương
- có liền, bà ăn cơm với gì vậy?
- thì ăn với nước tương đó, bị hết tiền, nhà dưới Cà Mau hổng gửi tiền lên kịp
- trời, dzậy bà vô kia lấy cơm từ thiện đi, cơm từ thiện ngon lắm, đủ thứ, có đồ chay đồ mặn luôn
- ủa, có vụ đó hả, mừng quá, cảm ơn con hén
- hổng có chi bà, bữa nào bà hổng có tiền thì ra đó lấy cơm nha, sáng có cháo, nui, trưa có cơm, mì chay, đồ ăn ngon lắm
- trời, sao có người tốt vậy cô
- có chớ, nhiều lắm, nhưng mà đều thì có vợ chồng nhà kia bên quận 7 nấu chở qua, nghe nói mỗi năm tới năm trăm triệu tiền cơm từ thiện
- nhiều quá, rồi ai cũng lấy cơm từ thiện thì cô bán buôn sao
- dạ hổng sao, ai người ta nghèo mới lấy cơm từ thiện, còn bình thường người ta vẫn mua cơm ngoài, con cũng bán được
- cảm ơn cô, thôi tui vô xin cơm trỏng

Bình Thường (1)

xưa tôi có thằng bạn, tên thằng Thường, hai anh em nó cách nhau 2 tuổi tên Bình và Thường, bình thường. Thằng này dân biển, đâu miệt Gò Công, nhưng nhà nó thì không đi biển, nhà nghèo lắm. Có nhiều câu chuyện hay, liên quan đến hai anh em nhà này, hôm nào rảnh rỗi sẽ kể, giờ kể chuyện nhỏ này cho nó thời sự trước

số là thằng Thường rất thường, không đẹp không xấu, không giỏi không dở, nhưng được cái chịu làm, mà làm công chuyện cũng thường, nó chuyên bao mối chạy bàn cho các đám cưới, chính nó giới thiệu tôi làm một chân chạy bàn thời gian. Nó đi làm sớm, mới năm ba đã mua được xe máy để đi làm, bạn bè nể phục lắm, dù chỉ là chiếc Cup78, đạp 7-8 cái mới nổ.

một lần kia thấy nó đi xe đạp trở lại, hỏi xe máy đâu, nó bảo mất rồi. Thì ra thằng Thường cho một thằng bạn ở chung mượn xe đi chơi với bạn gái, thằng kia dựng xe sao để trộm lấy mất, mà nhà thằng kia còn nghèo tợn, không biết lấy gì đền cho Thường, gặp Thường lắp bắp xin lỗi, hứa đi làm kiếm tiền đền lại. Thằng Thường khoát tay, nói câu rất hay, số cái xe này mất, mầy không làm mất thì tao cũng làm mất, anh em mà, thôi khỏi đền đi. Thằng bạn cảm kích lắm, anh em cũng cảm kích, hóa ra nó không thường chút nào

sau này nghe thằng Thường giàu, rất giàu, tôi không lạ, nó chắc chắn là thằng giàu, không giàu tiền bạc cũng giàu tình nghĩa

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...