Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013

Sài Gòn, bao nhớ…





Lần đầu tôi đến Sài Gòn, năm 91, tất nhiên có hàng ngàn thứ lạ lẫm, một trong đó là chữ “bao”. Đầu tiên là gặp vựa trái cây, quận Tám bộn, có lẽ do ngay bến ghe thương hồ từ miền tây lên nên trái cây ngon, trái cây bao ăn. Tôi ghé vô hỏi thẳng, bao ăn là sao chú. Ông lão, tay chụp thơm ném dưới ghe lên thoat thoắt, miệng ngậm thuốc rê, trả lời gọn lỏn, ăn thoải mái, thích thì mua không thích đừng. Vậy là ghé thử liền, chôm chôm vĩnh long trái đỏ lựng, lột ăn thoái mái, sầu riêng tách vỏ sẵn, muốn ăn lấy tay xé ăn, măng cụt có con dao thái cắm miệng cần xé, ăn trái nào hớt đầu trái đó… Ăn xong, đã nư rồi mua mỗi thứ một ít, làm quà, cân 3 ký chôm chôm xong chị bán hàng còn bốc thêm vài bốc bỏ vô, một chục măng cụt tính 14 trái, mua trái sầu riêng được tặng luôn trái hồi nãy mới thử.

Lần nữa là chuyện bao rẻ, là chỗ bán đồ sida đường Nguyễn Đinh Chiểu, tôi mua cái áo jeans, chị bán áo nói đồ ở đây bao rẻ, đi đâu rẻ hơn lại đây chị đền, mua bận xong đi đi lững thững xuống cuối dãy, thấy cái áo y chang, hỏi ra giá rẻ hơn, tôi thiệt tình quay lại bắt đền. Chị bán hàng cũng thanh minh thanh nga, nói đồ cũ, tùm lum giá, nhưng mà đã bao rẻ thì chị tặng thêm cái nón jeans cho đủ bộ, lỗ của chị hai chục rồi nha. Vậy là vui lòng liền.

Xưa thời sinh viên, tôi sống thoải mái nhờ mấy quán chuyên bao thiếu, thiếu thoải mái, không cần cầm cố, không cần danh tánh, không cần ai bão lãnh. Cơm có chị Phượng, café có quán Ngọc, nhậu có quán anh Tiên, ngày nào cũng một cữ cơm, một cữ café và một cữ nhậu. Không tiền cũng cứ vào quán, kêu những món quen thuộc, xong cứ đứng lên đi, đưa tay làm dấu trên không như chữ ký, rồi ra về, tiền bạc cuối tháng có tiền thì trả, không có hai ba tháng trả, nhiều đứa ra trường đi làm cả năm rồi mới quay lại trả, bình thường, người ta bao thiếu thì mình bao trả, không so đo.

Có lần tôi đánh nhau với giang hồ ở Thủ Đức, hai bên đánh xáp la cà, ném không biết bao nhiêu là ly chai, đánh xong đi về, băng giang hồ kia quay lại gặp chủ quán, bao nhiêu ly chai bàn ghế bị bể cứ nói một tiếng, đền đầy đủ. Lần khác tôi uống rượu với giang hồ bến xe Chợ Lớn, uống từ trưa, đến tối thì hết mồi, một anh trong bọn nói bữa nay ở nhà bà già nấu món gì đó, lâu quá tôi quên, để tao chạy về xin bả, nói đoạn ra dựng chiếc cối, chắc là có độ lại, rồ ga quay xe xẹt lửa, lao đi. Chẳng may màn biểu diễn xe không chuẩn lúc đã say, anh chàng bốc đầu quá chớn, xe quăng tới trước người rớt lại, chiếc xe quăng tới đụng vô một cái tủ thuốc, bể miếng kiếng, văng thuốc lá tùm lum. Chị bán thuốc chửi anh giang hồ, lúc này đang đau đớn lồm cồm dậy dắt xe, chửi té tát. Anh chàng đó, tôi nhớ là ở trần, người ngợm xăm vằn vện, thẹo thọ, nhăn nhở cười xin lỗi chị bán thuốc nọ rối rít, nói, thôi bà làm gì dữ vại, đừng chửi nữa, bao nhiêu tui đền, tui đền. Sau nhậu lại, mình nói anh chơi hay quá, ảnh nói, giang hồ với nhau chớ không giang hồ với người ta, mình sai phải xin lỗi, phải đền chớ, ui, nói nghe, dân sài gòn chơi bao đẹp, không đẹp không ăn tiền nha.

Sài Gòn đúng nghĩa buôn bán là vậy, xưa vậy, giờ hao mòn nhiều nhưng nếu gặp đúng người Sài Gòn, người miền tây thì vẫn còn. Trái cây bao ăn, bao ngọt, đồ ăn bao rẻ, quần áo bao đẹp, đậu xe bao trật tự, đi nhậu bao say, chơi bao vui, quán xá bao thiếu, hàng hóa bao thử, bao đổi, bao trả, kể cả tivi đầu máy điện thoại, mua rồi không ưng cũng bao trả lại luôn… “bao”, nghĩa là cam kết miệng rằng bạn phải hài lòng với cái mà bạn nhận được, bao hài lòng, cái chữ bao đơn giản nghe như chơi rồi bỏ, nhưng nó là cam kết nghiêm túc và hào hiệp, rất riêng, của người miền nam. Nhiều người buôn bán sau này từ nơi khác tới, học đòi chữ bao nhưng khó thực hiện, bởi muốn, phải thiệt lòng, thiệt tình, bởi không có luật nào bắt buộc phải “bao”, chỉ có thứ luật mơ hồ di truyền đâu đó từ những ngày khẩn hoang mở cõi, thời con người tin nhau, sống phải với nhau, tới bây giờ.

Bởi, tôi sống ở Sài Gòn hơn hai chục năm, tôi dám nói, Sài Gòn bao nhớ nha. Ai từng sống ở Sài Gòn, dù ghét dù yêu, dù đã ra đi tìm miền đất hứa hay quay về cố xứ sinh nhai, đều nhớ Sài Gòn, ai từng một ngày một bữa ở Sài Gòn, ăn dĩa cơm tấm tô hủ tíu bụi bặm, đi xe ôm lang bạt, ngủ nhà trọ bến xe… đều sẽ nhớ Sài Gòn, nhớ cái ồn ào bụi bặm, nhớ một mảng đời lộn xộn ngược xuôi, mạnh ai nấy sống nhưng yên tâm là ai cũng sống được, dù rất khác lạ, nhưng cũng rất thân quen, rất nhớ.


Như tôi, mỗi ngày, tôi đều nhớ Sài Gòn. Sài Gòn bao nhớ mà.

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

chuyện nhỏ Sài Gòn (phần 2)

...

1.
Dọc bờ kinh mới làm được qui hoạch như công viên nhỏ với lan can, lối đi bộ và luống cây, gần đây dân câu cá ra ngồi nhiều, người đi bộ còn ít, do chưa có bóng cây. Mấy cái cây mới trồng, cao chừng hơn đầu người, dỡ chống rồi nhưng vẫn còn yếu, nhứt là mấy buổi chiều gió. Có mấy anh công nhân đem dây kẽm néo thân cây lại, như kiểu néo cột buồm. Chỗ dây kẽm cột vào thân cây, anh công nhân cẩn thận dùng một đoạn ống cao su luồn qua rồi mới cột vào cây. Để chi? Để sợi dây kẽm đừng có siết vô vỏ cây mỗi khi có gió, biết là hổng sao, nhưng mà hổng đành.

2.
Góc đường quẹo vô hẻm cặp theo bờ tường một công ty, có ba người đóng đô ở đó, lâu rồi. Đầu tiên là anh sửa xe máy mà chủ yếu là vá xe bằng cái máy bơm hơi nhỏ được câu điện nhờ từ phòng bảo vệ, một chú thợ sửa khóa và một anh thợ may chuyên sửa đồ, thường cắt quần jeans.  Mỗi anh có một tấm bạt nhỏ, một đầu neo vô bờ tường, một đầu chống bằng cây tầm vông, đủ che nắng, riêng anh thợ sửa đồ được thêm cái panô khẩu hiệu khu phố văn hóa chỗ cái trụ đèn nên rộng rãi hơn chút, đủ kê ba cái ghế mủ cho khách ngồi chờ lấy đồ, rảnh rỗi hai ông kia cũng qua góc đó café tránh nắng hoặc nói chuyện.

Có bữa ông Trời làm mưa cả ngày, buổi chiều muộn trời vẫn mưa tầm tã, ba ông vắng khách tụ lại chỗ anh thợ may, một chai rượu, một cái ly với gói mì bẻ vụn đặt trên một cái ghế mủ, họ chỉ ngồi lặng lẽ, đến phiên ai nấy uống. Một người phụ nữ mặc áo mưa đi bộ quẹo vô hẻm, bà có vẻ đang xách nặng, một túi đồ khiến bà phải đi nghiêng người, anh thợ sửa khóa nhanh chân đứng dậy, chạy ra, đỡ một tay cho bà. Anh cầm túi đồ bằng hai tay, chạy từng bước dài, qua mấy vũng nước mưa vào hẻm, đặt nó trước một căn nhà nhỏ, bấm chuông rồi lại chạy từng bước dài trở ra, phủi mưa trên tóc rồi sà xuống bàn nhậu.

Người phụ nữ đi ngang chỗ mấy người uống rượu, mỉm cười nói câu cảm ơn, rồi tiếp tục đi về nhà của mình. Chừng năm phút sau, từ trong căn nhà đó, một cô gái xinh đẹp mở cửa, luống cuống vì một tay cầm dù, một tay cầm dĩa đồ ăn nghi ngút khói bước ra, đi về đầu chỗ bàn máy may, đặt lên ghế một dĩa mì xào với cải xanh và thịt bò, có cả mấy cọng ngò xanh, mấy trái ớt đỏ và ba đôi đũa tre, loại đũa dùng một lần. Cô gái bẽn lẽn nói, má con mời mấy chú mồi nhậu. Ba người đàn ông cười lớn, cảm ơn, rồi lại tiếp tục, đến phiên ai nấy uống. Sài Gòn vẫn mưa tầm tã

3.
Cái hẻm nhỏ thông ra hẻm chính bị bể cống, sẵn có nhiều nhà mới xây trong hẻm nên bà con hùn tiền làm cống mới, thông ra cống chính. Hẻm nhỏ, lại cụt, nên việc thi công khó khắn vô cùng, thầy thợ ông Bảy toàn phải làm đêm. Mấy bữa nay đào hết để nối ống nên cực dữ, lúc nào cũng có sẵn mấy tấm ván, hễ xe máy nào ra vô thì có người thợ ra lót đường, hoặc dắt xe phụ.

Buổi đêm, một cô gái nhỏ nhắn, nhảy chân sáo qua chỗ mấy người thợ đào cống, đi ra đầu đường, đến một xe bánh mì heo quay, cô xòe bàn tay ra với người bán bánh mì, một hai tờ tiền cuộn tròn, bán cho má con mười ổ. Chị bán xe bánh mì có lẽ mập gấp đôi ông chồng đang đứng quấy ly café đá ngay đó, chị gần như hét lên với anh chồng: mười ổ, vô phụ coi! Rồi quay qua cô bé: Ổ mười lăm nha. Tiếng dạ gọn lỏn rơi mất giữa dòng xe.


Hai vợ chồng làm thoăn thoắt, cái bọc bánh mì nhanh chóng được trao cho cô bé, người chồng lại quay mặt quấy ly café của mình còn chị vợ hỏi giật cô bé: mà nè, mua cho ai dữ vậy, nhà mày có hai má con ăn sao? Cô bé cười, dạ má con đâu có ăn bánh mì, má biểu mua cho thợ chú Bảy đang làm cống, tại đêm nay chú Bảy nói làm nguyên đêm cho xong. Chị bán bánh mì khựng lại một giây, rồi nói, chờ chút, vậy thôi tính má mày một trăm thôi. Chị mở ngăn kéo đưa lại cho cô bé tờ năm chục ngàn. Cô bé cầm tờ tiền lóng ngóng, còn chưa hiểu hết câu chuyện thì chị bán bánh mì đưa tiếp cho cô một gói thuốc, nè, mày đưa ông Bảy gói mèo giùm tao, biểu chả làm lẹ giùm, bụi thấy mẹ rồi.

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Chiếc rương của mỗi người

Chiếc rương của mỗi người
                             (cho bạn bè mười tám)

ai mười tám tuổi ngày rời xa gia đình chắc đã từng được tặng một cái rương cho cuộc đời tự lập của mình, tôi cũng có một cái, cái rương của tôi có vỏ bằng thiếc, được một người bác sĩ đàn anh tặng, người bác sĩ đó được một người chú tặng... và tôi sau này, dĩ nhiên tôi đã tặng cái vỏ rương đó cho một người trẻ khác nữa rồi.

ai mười tám tuổi khi bước vào đời, dù vào đại học, vào quân đội hay vào một công trường nhà máy, hay tệ lắm là vào một băng đảng giang hồ nào đó, bắt đầu dành giật chút số má đầu tiên, hẳn đã từng bắt đầu với một cái rương, đầu tiên là quần áo tư trang, rồi đến kỷ vật giấy tờ, rồi đến chút tiền, một vài lá thư hoặc cái nhẫn được cuộn trong mấy lần bao gói, dấu kỹ dưới đáy.

ai mười tám tuổi cũng từng đặt tất cả đời mình vào một cái rương, ra đi với bao nhiêu suy tư và mơ ước, ra đi rồi không trở về với nó. Cái rương nhỏ thôi, nhưng gói đầy gói đủ, cả những năm tháng ngông cuồng, những đam mê cuồn cuộn, những yêu thương hào hiệp của một thời tuổi trẻ. Tôi cũng từng có một cái rương như thế. Tôi vẫn cất nó ở đó, chỗ của hôm qua, chỗ của những thứ mà thời gian không còn lay được nữa.

ai mười tám tuổi cũng từng nhiều đêm ngủ ở nhiều vùng đất xa lạ với những người xa lạ, chỉ bên cạnh là một cái rương thân thuộc, cái rương là bạn đường là bạn đời của những ngày tháng thanh xuân nghĩ mình tài giỏi mà thực ra là đang trôi theo cuộc đời, rồi đến khi không trôi được nữa, cái rương thành cái neo, thành cái bến. Một cái rương nhỏ có linh hồn của một nếp nhà, của một cuộc đời.

Hãy yêu cái rương của mình.

Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

Giáo Sư


... kính tặng Giáo Sư Lợi

Thực ra không ai biết lý do từ đâu họ gọi ông là Giáo Sư, chỉ một số người lớn trong hẻm biết, biết nhiều nhứt có lẽ là Tư Danh, nhưng cũng không mấy người muốn nói, đại khái cư dân trong hẻm biết rằng đó là một người đàn ông lịch lãm, trí tuệ và nghiện rượu. Họ gọi ông là Giáo Sư vì nghe đâu trước đây ông có dạy học ở Đại Học Sài Gòn, gọi riết thành quen tên, Giáo Sư thành như tên của ông, đến nỗi cái quán nhậu không tên chỗ ông hay ngồi ở ngã ba của hẻm cũng dần dần bị gọi là quán Giáo Sư, hay ông xe ôm hay chở ông đi đây đi đó cũng bị gọi luôn là xe ôm Giáo Sư. Trong hẻm, sau Tư Danh thì vợ chồng anh Tư Xe Ôm luôn được Giáo Sư tín cẩn nhứt.

Giáo Sư dáng cao ráo, có lẽ đã ngoài bảy mươi, mái tóc bạc lưa thưa nhưng luôn được chải nếp cẩn thận, trên túi áo ngực của ông luôn có một cây lược nhỏ, được gài chung với một cây bút pa ke chánh hiệu. Trừ những lúc quanh quẩn trong nhà thì hầu như lúc nào ông xuất hiện cũng bảnh bao, dù chỉ là loanh quanh trong hẻm rồi đi uống rượu, quần khaki màu sáng, áo sơ mi trắng ngắn tay có áo lót phía trong, giày xăng đan có quai hậu. Ông luôn đi đứng khoan thai, ánh mắt luôn toát lên nụ cười tươi, dù có tỉnh hay say thì cũng ít ai thấy ông không cười. Ông nói giọng bắc, thứ giọng bắc năm tư đã pha trộn, người trong hẻm rất thích nghe ông nói chuyện, có người chỉ xin ông nói đi nói lại chữ “Xài Goòng”, nghe đã lỗ nhĩ gì đâu. Nhìn bề ngoài ông khác hẳn với những người còn lại trong hẻm, nói chung nếu bất chợt nhìn lại một cách dò xét, ông như một mẫu người lưu cữu từ đầu thế thế kỷ 20.

Cư dân trong hẻm ai cũng mến Giáo Sư. Ông thường xuất hiện từ 10 giờ sáng, đi một vòng hẻm, chào hỏi hết thảy mọi người, bất kể nam phụ lão ấu, ông luôn chào họ với kiểu chào cũng lịch lãm không kém, hơi cúi đầu và nghiêng mình kiểu một quí tộc châu âu thời trung cổ: chào cô Sáu, hôm nay khỏe hả cô Sáu, chào chị Hai, hôm nay khỏe hả chị Hai… tất nhiên cư dân trong hẻm không ai lại đi đối đáp với ông theo kiểu cách dị kỳ của ông, họ chỉ mỉm cười hoặc gật đầu, lễ phép hơn thì họ “cảm ơn Giáo Sư”, vậy thôi. Ông ăn một dĩa cơm tấm hoặc một tô hủ tíu, đó là bữa sáng kiêm luôn bữa trưa của ông, rồi ông ra quán Tư Danh uống café. Quán Tư Danh không có ghế nhựa, dù là quán bình dân nhưng bàn ghế mây, kiểu mây từ xưa cũ, đó là quán ông thích. Khi Giáo Sư vào thì ông ngồi chỗ quen, con Lành phục vụ sẽ đem cho ông một ly café đen không đường, rồi nó vào mở một trong mấy cái đĩa nhạc ông thích. Đôi khi Tư Danh ra ngồi với ông, ngôi thinh vậy thôi, không nói câu nào. Bất luận trong hẻm ai ra hay vào quán Tư Danh, nếu có ông ở đó thì phải luôn chào ông, mỗi khi có người chào mình, Giáo Sư sẽ kéo ghế, đứng dậy, nghiêng mình đáp lễ.

Đôi khi ông ngủ trưa luôn trong quán café hoặc về nhà ngủ chút. Buổi chiều xế là ông ra quán nhậu. Gu của ông cũng lạ, ông sẽ uống bia Sài Gòn, không đá, mỗi ly bia sẽ pha với một ly rượu nhỏ. Ít khi ông ngồi một mình, thường thì anh Tư Xe Ôm sẽ ngồi với ông, hoặc luôn có một người khách nào đó, ở đâu đó, chạy xe máy hoặc đi xe ôm tới, ngồi uống cùng ông. Đôi lúc trong cuộc rượu ông nói chuyện bằng tiếng Pháp, có lúc lại nói tiếng Anh, đa phần lúc say ông sẽ nói tiếng Pháp nhiều hơn. Tùy bữa uống nhiều uống ít, nhưng ông thường về nhà tầm 9h tối. Không bao giờ lè nhè hay chân nam đá chân xiêu như những kẻ say khác, Giáo Sư vẫn đi khoan thai, vẫn chào hỏi mọi người trước khi vào nhà.

Giáo Sư sống một mình, bà vợ ông đã mất mấy năm trước. Giáo Sư có hai người con, một gái một trai, con trai ông sống ở Mỹ còn cô con gái sống ở Canada, họ đều ở chỗ rất lạnh. Mỗi năm hai người con thường phân công về thăm ông ít nhất một lần, đem theo dâu rể và mấy đứa cháu ông. Họ không gọi ông ba, cha hay tía, gọi ông là papa. Họ ít giao du với cư dân trong hẻm, nhưng cũng như ông, họ rất lịch thiệp. Đôi khi nói chuyện với ai đó, họ thường thanh minh rằng papa không chịu qua bển với tụi này, papa sợ lạnh. Giáo Sư cũng hay đỡ lời cho con mình, ông nói mấy đứa nó kêu tôi qua bên đó, à, ông là người hiếm hoi vẫn xưng “tôi”, nhưng tôi không đi, bển lạnh lắm, có lúc dưới dê rô luôn, tôi già rồi, chịu lạnh không được.

Một lần, lúc uống rượu với Tư Xe Ôm, Giáo Sư mời vợ chồng Tư Xe Ôm về ở chung. Vợ chồng anh Tư cũng dễ thương, anh Tư trước làm bốc xếp ở chợ đầu mối, rồi tham gia đánh nhau, bị đi tù hết mấy năm. Ra tù thì mất nhà, nên vợ chồng thuê cái nhà trọ cuối hẻm, anh Tư chạy xe xôm còn chị vợ thì bán xe thuốc lá ngoài lộ. Anh Tư có một đứa con trai, nhưng nó lấy vợ ở miệt Bạc Liêu, nhà vợ có nhiều công chuyện mà ít con trai nên thằng con anh bị bắt rể luôn ở dưới, lâu lâu nó đón xe về, cho anh anh chị tiền bạc, vài ký tôm cua, vậy thôi. Mấy bữa sau đó thấy vợ chồng Tư Xe Ôm trả nhà trọ, qua nhà ở luôn với Giáo Sư. Từ có chị Tư lo cơm nước, Giáo Sư không ăn ở ngoài nữa, nhưng rượu thì vẫn uống ở quán.

Mới đầu, khi biết nhà mình có anh chị Tư qua ở với papa, hai người con của Giáo Sư cũng vui, thậm chí ngỏ lời biết ơn anh chị Tư, đi về thể nào cũng quá cáp như ân nhân. Nhưng một hôm, lúc Giáo Sư say rượu, ông nói rằng ông thật vui vì có anh chị Tư ở chung, rằng vài bữa ông chết sẽ cho lại cái nhà này cho anh chị Tư. Từ sau câu nói đó hai người con của Giáo Sư về thường hơn, những lúc anh chị Tư vắng nhà thì họ tranh cãi với Giáo Sư nhiều hơn, họ nói rất nhỏ, còn Giáo Sư thì thường hét lên giận dữ, nhưng cũng không ai biết họ nói chuyện gì, vì thường Giáo Sư sẽ nói bằng tiếng Anh, hoặc tiếng Pháp. Đó là lần hiếm hoi họ thấy Giáo Sư nổi giận, dù hai người con luôn tỏ vẻ kính trọng, lễ phép với ông. Sau đợt cãi nhau đó, cô con gái hầu như về ở hẳn với Giáo Sư , còn anh chị Tư lại dọn ra nhà trọ ở.

Cô con gái cấm hẳn ông uống rượu, nói cấm thì hơi quá nhưng cô hầu như chặn cửa không cho ông ra ngoài, thi thoảng lắm, lúc cô đi với bạn, ông tranh thủ ra quán chút, dù không được lịch sự như trước, chỉ với bộ đồ pi da ma và đôi dép, tranh thủ làm vài ly bia pha với rượu rồi về, cái dáng đi không còn khoan thai, mà lật đật trông tội nghiệp. Cô con gái của ông thật cao tay, là cô đôi lúc cũng tự nhận mình như thế, cô ngăn được ông uống rượu là việc nhỏ, việc lớn hơn là cô thuyết phục ông sang tên lại ngôi nhà ông đang ở cho một người cậu, là em của mẹ cô, đang ở miệt Thủ Đức. Giáo Sư biết việc này, ông buồn lắm, nhưng ông không nói gì, thuận theo luôn.

Rồi Giáo Sư bịnh. Ông nằm viện gần một tháng ròng, khi về nhà thì ông ốm hơn trước rất nhiều, nhưng ánh mắt vẫn toát lên vẻ tươi cười như cũ. Cô con gái phải quay về Canada sau một tháng vất vả chăm ông. Người ta lại thấy ông như xưa, xuất hiện lúc 10h sáng, lịch lãm đến kỳ dị, và uống bia pha rượu với chú Tư vào buổi chiều. Lịch lãm trở lại được hơn tuần lễ nữa thì Giáo Sư mất. Chỉ có Tư Danh là biết, nhắn với Tư Danh trước, rồi bấm máy gọi cho con xong là ông đi. Khi các con ông về thì mọi người trong hẻm đang lo hậu sự cho ông chu đáo.

Khách tới viếng Giáo Sư đông vô kể, xe máy xe hơi đậu tràn hẻm. Vợ chồng Tư Xe Ôm đeo tang trắng tiếp khách, như hai người con của ông. Hôm đưa ông đi thiêu, cả hẻm đều đi, bọn thanh nên đi xe máy, còn người già đi hai chiếc xe bus lớn, rồng rắn đi tiễn ông. Đến mấy ngày sau khi ông đi rồi, ở quán Tư Danh vẫn để ly café đen không đường ở chỗ cũ, ở quán Giáo Sư vẫn có một ly bia Sài Gòn, không đá, pha với một ly rượu nhỏ, cho ông.

Chừng hơn tháng sau khi Giáo Sư mất, Tư Danh kêu Tư Xe ôm qua nhà, đưa một bọc tiền. Tư Danh nói, Giáo Sư dặn là khi nào ổng chết mới đưa, đây là số tiền ổng để dành từ lúc con cái ổng gửi tiền về cho, có bao nhiêu ổng đưa tao giữ hết, không nhiều nhưng chắc đủ mua cái nhà, ở Gò Vấp hay đâu đó, cho vợ chồng bây có chỗ mà ở. Giáo Sư đã nói lời là giữ lời.

Vợ chồng Tư Xe Ôm sụm xuống, khóc ồ ồ như con nít.







LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...