Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

Tản mạn về Người Sài Gòn


Bài của TS Nguyễn Thị Hậu (Hậu KC)

Trong những lúc “trà dư tửu hậu” hay “ngồi đồng” ở quán cà phê vỉa hè Sài Gòn, chúng tôi nói đủ chuyện : từ chuyện lịch sử tới tin tức xã hội, từ văn hóa tới kinh tế… Nói gì thì cuối cùng vẫn quay về chuyện CON NGƯỜI - cái gốc của mọi chuyện. Bởi vì xã hội nào tạo nên con người ấy, con người nào phản ánh xã hội ấy.



Những người bạn của tôi, và cả tôi nữa, hầu hết đã sống ở Sài Gòn trên dưới 40 năm, từ nhiều vùng miền nhiều tỉnh thành, do những hoàn cảnh khác nhau mà đến/ vào/ về Sài Gòn sinh sống. Có thể coi chúng tôi là “người nhập cư” vì cha mẹ không sinh sống ở Sài Gòn và chúng tôi không sinh ra tại đây, nhưng cũng có thể coi là “người Sài Gòn” bởi vì chúng tôi đã trưởng thành, lập gia đình, làm việc cho đến lúc nghỉ hưu, thậm chí có lẽ “nhắm mắt xuôi tay” cũng ở đây. Nhưng thế hệ con cái chúng tôi được sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, mặc dù quê quán ghi trên Chứng minh nhân dân ở đâu thì chúng vẫn tự nhận là “người Sài Gòn chánh hiệu”. Tất nhiên, nếu coi hộ khẩu là điều kiện tiên quyết thì chúng tôi phải được coi là người Sài Gòn “xịn”.



Ở Sài Gòn khái niệm “người nhập cư” thường được sử dụng trong cơ quan công quyền để phân biệt người có hộ khẩu và người không/ chưa có hộ khẩu ở Sài Gòn, nhằm mục đích “quản lý hành chánh”. Giới nghiên cứu hay gắn khái niệm này với loại hình “kinh tế phi chính thức” trong việc nghiên cứu hoạt động kinh tế của đô thị Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh. Còn trong đời sống hàng ngày hầu như người Sài Gòn ít sử dụng cách nói “người nhập cư” hay “dân nhà quê”, “dân tỉnh” mặc dù ở miền Tây Nam bộ hay gọi người Sài Gòn là “người thành phố”, đi Sài Gòn là “lên thành phố”.  Vậy thì tôi, vừa với tư cách là “người nhập cư” vừa là “người Sài Gòn” có thể biết gì, hiểu gì về Người Sài Gòn? Có thể bắt đầu từ vài nhận biết có phần rời rạc sau đây chăng?

Đầu tiên, “người Sài Gòn” là sự hòa nhập về văn hóa (tính cách, lối sống, ngôn ngữ, tín ngưỡng, ẩm thực, trang phục…) của người Việt, người Hoa và những tộc người “bản địa”. Người ta cứ quen nói rằng “Sài Gòn 300 năm” nhưng đó chỉ là nói về thời kỳ thiết lập nền hành chính của Chúa Nguyễn từ 1698 mà quên mất/ chưa biết Sài Gòn còn có quá khứ hơn 3000 năm của văn minh Đồng Nai – Cửu Long. Văn minh ấy do những tộc người khác “Việt”  dựng nên. Rồi từ thế kỷ XVI – XVII, người Việt, người Hoa đã dấn bước vào vùng đất này, từ đó Sài Gòn, Nam bộ có thêm lớp chủ nhân mới. Cùng với người Khmer, người Mạ, người Chăm… sự hòa nhập truyền thống, văn hóa của tất cả những chủ nhân đã tạo nên Sài Gòn và người Sài Gòn mới mẻ, năng động và chân tình.



Khi nói đến người Việt người ta hay nói đến truyền thống lịch sử lâu đời và hào hùng, bốn ngàn năm văn hiến, văn minh sông Hồng, con rồng cháu tiên, những triều đại nổi tiếng chiến thắng ngoại xâm... Còn khi nói đến người Việt (ở) Nam bộ thì đầu tiên là kể về điều kiện tự nhiên thuận lợi của đồng bằng sông Cửu Long: vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, đất rộng người thưa, ít bị thiên tai như bão lụt hạn hán… Sau mới nói về nguồn gốc “lưu dân” và 300 năm hình thành. Nghiên cứu gia phả nhiều dòng họ, gia đình ở Nam bộ phần lớn được ghi nhận “thời ông cố ông sơ” từ miền Trung đi ghe theo biển vô Nam, đầu tiên định cư trên những giồng đất vùng cửa sông… rồi từ đó ngược các nhánh Cửu Long vào sâu vùng ngập trũng, khai phá đồng bằng và khai thác tự nhiên. Công cuộc khai phá này chẳng hề dễ dàng thuận lợi chút nào! Do đó tính thực tiễn được đặt lên hàng đầu: tất cả hướng đến thực tế, không lý thuyết suông, không giáo điều, lấy hiệu quả lao động làm mục đích chính. Không hay than vãn, người Nam bộ bình thản “làm chơi ăn thiệt”. Đây chỉ là một cách nói đơn giản hóa, “coi vậy mà hổng phải vậy”, coi khó khăn đã qua như một việc chơi chơi, còn kết quả thực sự mới là quan trọng, là đã “có ăn”.



 Người Sài Gòn/ Nam bộ di chuyển càng xa cái “gốc” đồng bằng sông Hồng thì sợi dây truyền thống càng dãn ra. Những tính chất của không gian “nông thôn làng xã” khép kín biến đổi theo thời gian, bị/ được đứt gãy do phải thích ứng với không gian địa – xã hội khác. Thay vào đó là sự tự lập và tính linh hoạt ứng phó với hoàn cảnh điều kiện mới và từ đó tạo ra truyền thống mới, dám thay đổi cho phù hợp hoàn cảnh, thích nghi nhanh, chịu đổi mới “làm đại nghen? Ừa, làm đại đi” là phong cách làm ăn Sài Gòn/ Nam bộ. Làm đi, có sai cũng không sao, làm lại/ sửa sai mấy hồi! Quan trọng là không mặc cảm sợ sai và sửa sai nhanh.



Ở Sài Gòn/ Nam bộ “dư luận xã hội” không nặng nề khe khắt với những điều khác lạ, cái mới. Là bởi người Việt trên bước đường lưu chuyển vào đây đã trải nghiệm qua những vùng đất toàn những điều mới lạ. Cùng với sự nhạt đi của tính chất phong kiến gia trưởng, việc tiếp xúc sớm với các giá trị dân chủ, bình đẳng của văn minh phương Tây làm cho người Sài Gòn khá cởi mở và trong các mối quan hệ xã hội và trong gia đình. Tính chất dân chủ  trong xã hội phát triển nhanh, biểu hiện ở chỗ cá nhân ít lệ thuộc, phụ thuộc vào cộng đồng và vì thế vai trò và trách nhiệm cá nhân cao “dám làm dám chịu”.

“Làm chơi ăn thiệt”, “làm đại”, “dám làm dám chịu”…  sự liên kết gắn bó, hòa trộn ba đặc điểm trên tạo nên người Sài Gòn/ Nam bộ. “3 trong 1” từ ứng xử đến làm ăn, trong sinh hoạt… không tách rời một đặc điểm nào, hình thành tính cách và làm nên hiệu quả của “công chuyện làm ăn” của người Sài Gòn.



Nói về Nam bộ thì không có hay ít có sự phân biệt văn hóa và người Nam bộ nói chung với văn hóa và người Sài Gòn nói riêng (có chăng có thể  phân biệt chút ít giữa Đông và Tây Nam bộ). Nếu không quá khắt khe có thể coi người/văn hóa Sài Gòn là đại diện cho người/ văn hóa Nam bộ, từ giọng nói, ngôn ngữ, ẩm thực, tính cách, làm ăn… Có lẽ vì vậy mà ở Sài Gòn khi cần thì hỏi nhau “quê đâu” mà không hề có ý phân biệt người “nhà quê” hay “thành phố”. Giai đoạn đương đại, quá trình dân cư của Sài Gòn cũng khác với nhiều đô thị khác: Thời kỳ chiến tranh Sài Gòn là nơi mà nhiều người từ các tỉnh miền Trung đổ vào, từ miền Tây Nam bộ lên, nhất là khi chiến sự ác liệt. Sau năm 1975 Sài Gòn cũng là nơi có tình trạng thay thế dân cư lớn nhất và kéo dài cho đến nay: Người (thị dân) Sài Gòn ra đi bằng nhiều con đường, lúc ồ ạt khi chẳng mấy ồn ào; Người các tỉnh lại liên tục đổ vào Sài Gòn tới nay chưa hề giảm bớt. Còn Hà Nội trong chiến tranh dân cư rời bỏ thành phố đi về (tản cư, sơ tán) nông thôn, sau chiến tranh mới trở lại thành phố. Tuy nhiên Hà Nội và Sài Gòn cũng có một số điểm giống nhau: 1/ Sau khi chiến tranh chấm dứt khá nhiều người Hà Nội “gốc” và Sài Gòn “xịn” đã rời thành phố đi nơi khác sinh sống, tạo ra khoảng trống trong cơ cấu dân cư là tầng lớp thị dân lâu đời;  2/ Chính quyền thiết lập sau chiến tranh (Hà Nội 1954 và Sài Gòn 1975) đều do (hầu hết) những người (kháng chiến) ở nông thôn, rừng núi trở về lãnh đạo, tổ chức chính quyền chưa kịp thích nghi với những đô thị lớn nhất nước và 3/ hiện nay hai thành phố này có số lượng người nhập cư nhiều nhất. Những đặc điểm này để lại cho Hà Nội và Sài Gòn nhiều khó khăn trong việc xây dựng đô thị văn minh hiện đại.



Nhưng, ai đã vô Sài Gòn làm ăn sinh sống, chắc chắn trở thành “người Sài Gòn”, bởi Sài Gòn phóng khoáng và rộng rãi mang lại cơ hội cho mọi người, bởi Sài Gòn không tự coi mình là đặc biệt khi đang sống bằng nguồn lực của chính mình và của những người đến từ mọi miền, đồng thời Sài Gòn cũng luôn chia sẻ, đóng góp những gì mình có cho cả nước.



Là kẻ hậu sinh trong việc nghiên cứu về văn hóa Sài Gòn/ Nam bộ; lại chưa được coi là “người Sài Gòn chánh hiệu”, vậy mà dám “tản mạn” về Sài Gòn và người Sài Gòn, âu cũng do cái  tính  “làm đại” của người Sài Gòn/ Nam bộ đã nhiễm vào người. Kính mong các bậc trưởng thượng về “Sài Gòn học, Nam bộ học” lượng thứ.

Sài Gòn 23/11/2012

Nguyễn Thị Hậu
(Báo Lao Động Tết 2013 đăng bằng tựa *Khí chất người Sài Gòn)

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

Hành Trình Trường Sơn (hết)

...



Phần cuối: Đường về

Chúng tôi rời khỏi Quảng Trị đã gần trưa nên quyết định sẽ ăn trưa ở Huế. Đi xuyên qua cả thành phố Huế, vẫn không biết dừng đâu và ăn gì, loay hoay mãi ra đến ngoại thành mới chọn một quán bánh canh cá lóc có vẻ sạch sẽ và yên tĩnh. Đó là kiểu làm bánh canh cũng mới, chúng tôi mới thấy lần đầu. Tuy rất thích thú với qui trình nấu bánh và thứ chả Huế được gói lá chuối rất ngon nhưng chúng tôi không ấn tượng mấy với món bánh canh này.


 đầu tiên bột được cắt ra và cán dính vào những cái ống Bình Minh thế này

sau đó bà chủ dùng dao chém cho bột đứt thành sợi, rớt vào nồi nước dùng


 thành phẩm thế này



Tôi đổi lái cho bạn Thắm, định sẽ làm một giấc trong khi bạn ấy lái đến Đà Nẵng, tuy nhiên con đường quá đẹp khiến tôi cứ đi một đỗi lại dừng chụp ảnh. Trời lạnh và có mưa lất phất nên ảnh chụp không được đẹp, nhưng chủ yếu ghi lại những phong cảnh mà rất hiếm khi trong đời ta có dịp thấy lại





Tôi đã từng nhiều lần qua đèo Hải vân, đây là lần đầu tiên tôi đi vào hầm và thật sự choáng ngợp trước công trình nhân tạo vĩ đại này. Hầm Hải Vân dài 6.3km, với một hầm chính và một hầm thoát hiểm nhưng một số xe lưu thông trong hầm với tốc độ khá chậm làm chúng tôi phải mất 20 phút để qua được 6.3km hầm. Vậy là sau khi qua hầm Hải vân, bạn Thắm đã có trải nghiệm lái xe trong mọi địa hình ở Việt Nam.






Từ Đà Nẵng đường khá thoáng, xe lại được trang bị dàn đèn khá tốt để chạy đêm nên tôi chạy một mạch về thành phố Qui Nhơn để nghỉ đêm, chỉ dừng một chút để ăn cơm gà ở Tam Quan. Sáng hôm sau chúng tôi lại tiếp tục từ Qui Nhơn vào Phú Yên để kịp dự đám giỗ ông nội tôi. Ra khỏi Qui Nhơn, chúng tôi chọn con đường ven biển rất đẹp, đi qua nhiều làng chài, nhiều cái vịnh đẹp như trong tranh.



trích FB: "thực ra đây là một tấm ảnh khá lớn, tôi chụp toàn cảnh một cái vịnh nhỏ, bên trong là một làng chài, nhưng tôi cắt lại. Toàn cảnh cái vịnh rất đẹp, rất thanh bình với biển xanh, bờ cát vàng cong cong, những hàng dừa nghiêng bóng che những mái nhà ngói đỏ....

Tôi cắt lại để thấy thứ đẹp hơn, tình bạn chài. Đây là thời điểm buổi sáng, sau một đêm câu lưới, những người bạn chài quay vào bờ và đã bán hết thành phẩm, bây giờ là lúc họ về lại bên nhau, bên xóm chài của mình. Những người khỏe mạnh giúp nhau đưa thuyền, đưa thúng lên bờ cát, những người phụ nữ giúp nhau gỡ tay lưới và xếp lại cho chuyến câu sau, bọn trẻ con chạy nhảy hoặc nằm dài trên cát. Tôi đứng nhìn họ thật lâu, tôi luôn muốn mình ở đó, trong cái cộng đồng nhỏ bé, tách biệt, cơ cực và đầy rủi ro đó. Nhưng tôi thấy ở đó thật văn minh, nếu bạn cho rằng văn minh là đỉnh cao của nhân loại."


Sau khi dự đám giỗ ông nội ở Phú Yên, chúng tôi quyết định sẽ về thẳng nhà mà không ghé đâu nữa. 

Nội cười móm mém yêu thương 




Chừng nào thằng Hai mày về thăm Nội nữa ?

Một số tấm ảnh chụp trên đường về Sài Gòn








Tôi kết thúc hành trình 3,500km của mình tại Sài Gòn lúc 0h45 sáng ngày 02/01/2013, với người bạn đồng hành, bạn Thắm và một chiếc xe đầy cả núi quà từ Hà Tĩnh, Quảng trị, Phú Yên.

...

Bạn Thắm hay trích một câu mà bạn ấy đọc ở đâu đó: "cuộc đời là một cuốn sách, không quan trọng là dài hay ngắn, mà quan trọng là nó có hay không". Đời tôi có lẽ là một cuốn sách hay, và 7 ngày vừa qua trên hành trình 3,500km, vượt qua dãy Trường Sơn hùng vĩ và anh linh, , qua 16 tỉnh thành phố của Việt Nam, thăm hai quê hương nội, ngoại, viếng gần chục cái nghĩa trang và những tấm bia tưởng niệm Liệt Sĩ... có lẽ là một trong những chương hay nhất và ý nghĩa nhất của cuốn sách đó.

Xin cảm ơn tất cả mọi người đã chia sẻ, đồng hành cùng tôi trong chuyến đi này, cảm ơn bạn Kiên đã tham gia cùng, cảm ơn bạn Thắm, bạn đồng hành của cuộc đời, cảm ơn bạn Ford Escape bền bỉ, mạnh mẽ và trung thành, cảm ơn bạn Hà Thi đã trông em thay ba mẹ. 





Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

Hành Trình Trường Sơn (5)


...

Phần 5: Hà Tĩnh - Quảng Trị

Ra khỏi con đường Trường Sơn Tây, nhiều cảm xúc mãnh liệt dâng trào trong lòng chúng tôi, nhưng chỉ một khoảnh khắc sau khi lắng lại, cơn đói mới trở về gọi tên. Lúc này là đã 4h chiều và chúng tôi vẫn chưa ăn gì kể từ bữa sáng ở Khe Sanh, chúng tôi rẽ vào đường Tỉnh Lộ 2B đi ra QL1 và ngó quanh tìm một quán ăn, đi mãi chẳng thấy quán xá gì, đành rẽ vào một cái quán bên đường, không biết bán gì. Bà chủ quán đon đả mời chúng tôi vào quán nhưng cũng cảnh báo rằng bà chẳng còn gì, ngoài cháo. Đói bụng, lại mệt nên chúng tôi cứ vào tìm chỗ rửa mặt cái đã, tôi hỏi bà chủ quán, bà có cháo gì, cháo gà hay cháo sườn. Bà nói bà chỉ có cháo bột thôi. Tôi thầm nghĩ, chắc là cháo gói, như kiểu mì gói vậy, thôi thì chỉ còn hơn trăm cây là về nhà rồi, làm tạm gói cháo cũng được. Chúng tôi gọi 3 tô cháo bột. Và đó là một quyết định sáng suốt chưa từng có, vì tô cháo bột mà bà nói thực chất là một tô kiểu như bánh canh, với sợi bánh canh dai kiểu miền trung, nước dùng xương được nấu với tôm và thịt viên. Đó là bữa ăn ngon đến nỗi chúng tôi hầu như đã định kêu thêm 3 tô nữa, nếu không vì bữa tối mà gia đình đang chờ chúng tôi ở Hà Tĩnh.

“Chứ đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh”, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh là quê ngoại tôi, nơi tôi được sinh ra và sống nhiều năm tuổi thơ ở đó. Ba tôi là thương binh miền nam được chuyển ra điều trị ở hậu phương lớn miền bắc sau 1968 còn mẹ tôi công tác ở một bệnh viện dã chiến ở Hà Tĩnh, đó là một mối tình kinh điển thời chiến và tôi được sinh ra trong mưa bom bão đạn những ngày đất nước sắp thống nhất, tên của tôi là sự ghép nối giữa Hà Tĩnh và Phú Yên, sau này chúng tôi cũng thống nhất là các con, cháu, chắt, chút, chít… của tôi đều sẽ lót chữ Hà trong tên của chúng, như một nhắc nhở về mảnh đất tình nghĩa này: Hà Tĩnh, là nơi lòng tôi luôn muốn trở về.


Vượt 135km từ Quảng Bình, đường đẹp như mơ, cái đèo Ngang danh tiếng giờ chỉ còn là một cái hầm ngắn và bữa cơm hội ngộ gia đình ở Cẩm Xuyên làm chúng tôi đi nhanh hơn ước tính. Chúng tôi được chào đón bởi các Cậu, Mự, Dì, Dượng và những người anh em họ, cùng bữa cơm thịnh soạn với rượu trắng quê hương. 



Có rất nhiều câu hỏi dành  cho chúng tôi, nhưng không ai hỏi tại sao chúng tôi lại chọn Trường Sơn, cũng như khi được biết chúng tôi muốn đi thăm Đồng Lộc vào sáng hôm sau, cả gia đình đã nhất trí sẽ cùng đi. Bạn Kiên, bạn Hà Nội đồng hành Trường Sơn đã chia tay chúng tôi sau bữa tối, bắt chuyến xe đêm đi Hà Nội để trở về nhà, từ đây, hành trình trở về chỉ còn hai vợ chồng tôi.

Sáng sớm hôm sau chúng tôi thăm Ngã Ba Đồng Lộc, một trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ ở đầu tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại, nơi mà để bảo đảm thông xe cho con đường, có 10 cô gái TNXP của Hà Tĩnh đã hy sinh anh dũng trong cùng một ngày. Sự hy sinh của mười cô gái TNXP trẻ măng ở Đồng Lộc đã dâng lên sự tiếc thương vô hạn, không những ở quê hương mình mà cả trong lòng những người lính đã từng hành quân qua ngã ba máu lửa này.





Ngã ba Đồng Lộc được cả nước tưởng nhớ với một tượng khu tượng đài và nhà tưởng niệm rất lớn, ngoài ra, các cô gái TNXP hy sinh năm xưa được lấy làm biểu tượng hy sinh của lực lượng TNXP cả nước nói chung và một nhà tưởng niệm những TNXP đã hy sinh được xây dựng to lớn và trang trọng ở ngã ba Đồng Lộc.




Trong khói hương tưởng nhớ và tiết trời mùa đông với cái lạnh 13 độ, chúng tôi không thể cầm nước mắt. Các cô linh thiêng chắc sẽ ấm lòng trước hàng đoàn người từ khắp nơi đến thăm các cô, những cô gái sống mãi tuổi hai mươi với đất nước này.








Buổi trưa, sau khi thắp hương cho ông bà ngoại tôi và thăm nhà ông Cậu, chúng tôi được gia đình thết đãi một bữa thịt dê Hương Sơn thật xôm tụ, bữa cơm rất vui vì các Cậu Mự, các Dì Dượng và hầu hết các anh chị em của tôi đều đến, vừa chào mừng vừa chia tay đứa con từ miền nam vừa trở về quê hương lại sắp sửa chuẩn bị quay xe ngược vào nam. 





Tôi định bụng sẽ uống ít rượu để còn cầm lái vì đường QL 1 cũng là một thử thách mà bạn Thắm chưa có trải nghiệm, nhưng tôi đã không thể, vừa vui vừa xúc động trước tình cảm quê hương, gia đình làm tôi say mềm. Chia tay gia đình ở Hà Tĩnh, tôi lên xe và ngủ một giấc trong khi bạn Thắm một mình lái xe trong cơn mưa mịt mù chở tôi hòa vào dòng xe cộ tấp nập trên quốc lộ 1 trở về.

Chúng tôi được anh Lê Đức Dục, nhà báo đất Quảng Trị, đón ngay khi vừa qua khỏi sông Bến Hải cầu Hiền Lương. Anh mời chúng tôi về nhà, thết đãi một bữa tối thịnh soạn với lẩu gà nấu nấm ăn với bún và thịt ba rọi quay ăn cơm, phải nói là chị vợ anh Lê Đức Dục thật đảm đang, khéo léo và nhiệt tình hiếm có. Chưa kịp hồi tỉnh sau bữa rượu chia tay lúc trưa ở Hà Tĩnh, tôi đã được anh Lê Đức Dục đãi rượu đã đời, đầu tiên là rượu ngô chánh hiệu do anh đem về từ Hà Giang, rồi đến Chivas rượu tây cay nồng, và cuối cùng anh nói, bây giờ đến tiết mục chính, một chai Vodka Ba Lan 40 độ hình viên đạn pháo cỡ 75mm độc đáo được dành riêng để đãi khách phương xa đến thăm vùng đất bom đạn Quảng Trị này.





Chúng tôi ngồi uống rượu và nói chuyện. Thật thú vị và cảm động khi bạn đến thăm một vùng đất nổi tiếng anh hùng và được một nhà báo thổ thần của vùng đất đó đãi rượu và kể chuyện. Chúng tôi nói về đường 9, về Khe Sanh, về thành cổ, về những nghĩa trang, về bom đạn trên mảnh đất này, về câu thơ “đò lên Thạnh Hãn xin chèo nhẹ / đáy sông còn đó bạn tôi nằm” và câu chuyện của nó, chúng tôi nói về “bên thắng cuộc” và hàng vạn, hàng vạn nấm mồ trên đất Quảng Trị này. Bữa rượu thật hay, rất cảm ơn tấm lòng của gia đình anh Lê Đức Dục, một điểm dừng ấm cúng và ý nghĩa trên hành trình đáng nhớ của chúng tôi.

Tôi hầu như gắng gượng lắm mới dậy nổi vào buổi sáng hôm sau, với ít nhất 5 thứ rượu trong người, nhưng có hề gì, tôi là dân chuyên nghiệp mà. Chúng tôi nhanh chóng ăn sáng qua loa rồi khởi hành ngược lại đường HCM Đông thêm hơn 30km để dâng hương ở nghĩa trang đường 9 và nghĩa trang Trường Sơn, trước khi xuôi vào nam.




Nghĩa Trang đường 9 là nơi anh Lê Đức Dục đề xuất nên đến và phải đến, dù Quảng Trị có đến hơn 60 cái nghĩa trang, anh nói, một vạn rưỡi con người nằm ở đó, ít người nhắc tới. Nghĩa Trang đường 9 chỉ cách Đông Hà chừng vài cây số, nằm trên một ngọn đồi hướng ra đường 9, nhưng khung cảnh ảm đạm quá, hầu như không có ai đến đây ngoài chúng tôi. Ở đây có một khu tưởng niệm với tượng đài rất đẹp đang xây dựng dở dang, trời mưa lạnh làm khung cảnh đìu hiu hơn. Có những hàng, những hàng nấm mồ cùng chung một phường, một xã, hoặc một lớp ở đại học.




Nghĩa Trang Liệt Sĩ Quốc Gia Trường Sơn nằm sâu trong đường HCM nhánh Đông, cách Đông Hà gần 30km về phía tây bắc, đó là một nghĩa trang lớn, được qui hoạch bài bản thành từng khu mộ của các địa phương theo tỉnh và thành phố trong cả nước, và rất đông khách dâng hương. Chúng tôi chỉ dâng hương ở nhà tưởng niệm, ở tượng đài và ở khu vực được qui hoạch cho TP. HCM.




Người ta nói Quảng Trị có rất nhiều nghĩa trang, nhưng có hai nghĩa trang rất lớn mà không có bia mộ, đó là Sông Thạch Hãn và Thành Cổ Quảng Trị. Trong trận chiến 81 ngày đêm đánh chiếm Quảng Trị, nơi đây thực sự là một cái lò thiêu người, những người mà theo lời anh Lê Đức Dục, hầu hết ở tuổi hai mươi, hầu hết đang là sinh viên… Chiến thắng ở đường 9 và Quảng Trị chính là tiền đề quyết định cho thắng lợi ở hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973.





Xin cúi đầu trước những người nằm xuống, hãy an nghỉ, hy sinh của các anh không bao giờ bị quên lãng, các anh là một phần lịch sử bi hùng của đất nước này. 

 

 Tạm biệt Quảng Trị anh hùng, chúng tôi tiếp tục hành trình ven biển trở về.

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...