Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

Hành Trình Trường Sơn (3)


...

Ngày 3: Những đứa con của Trường Sơn

Buổi sáng thị trấn giang hồ Khâm Đức đậm chất miền núi, sương phủ trắng mờ khắp trong màn mưa bụi và cái lạnh nhè nhẹ, chúng tôi trả phòng và chọn một quán bún bò giò heo kiểu Quảng làm điểm tâm trước lúc lên đường, bạn Hà Nội lần đầu thấy bánh mì kiểu miền trung nên thích chí lắm, kêu thêm bánh mì không chấm với nước lèo, nhức nách. Trong lúc café sáng đã có vài ánh mắt của giới tài xế nhìn chúng tôi lạ lẫm, tôi thoáng nghe họ bâng quơ gọi chúng tôi là bọn miền nam xuyên việt.

Đường quanh co phủ đầy một màn sương trắng và mây tràn các đỉnh núi khi chúng tôi ra khỏi Khâm Đức, định bụng sẽ ghé vào một cái hồ có tên rất đẹp: Hồ Mùa Thu, ngay trên đường ra khỏi thị trấn, nhưng thực chất đó chỉ là một cái hồ, chẳng ấn tượng mấy. Con đường chính thức vào lộ trình toàn rừng núi, những cánh rừng nguyên sinh mở ra ngút ngàn theo dãy Trường Sơn chập chùng trước mắt chúng tôi, cảm giác hưng phấn làm chúng tôi quên mất nỗi mệt mỏi đêm trước, hăm hở lao đi. 



Bạn Thắm bảo là dự báo thời tiết ba ngày tới sẽ có mưa và rét, nên chắc chúng tôi chẳng chụp được hình đẹp, nhưng đó là một dự báo sai. Trời hửng nắng ngay khi chúng tôi nhận ra cảnh núi rừng thật đẹp và hùng vĩ, như tôi đã nói, thật kỳ diệu khi trời xanh lên và mây trắng bay về theo dấu bánh xe chúng tôi.





Ở đây người dân tộc họ nuôi trâu, bò, chó hay heo đều thả rông trên đường, bọn thanh niên chạy xe máy đường đèo dốc cũng nhắm mắt lao hết ga, đó là những nguy hiểm tiềm tàng vì đường rất vắng lại nhỏ và quanh co, khuất tầm nhìn. Chúng tôi gặp người dân tộc nhiều, nhưng đa phần là các bà già và trẻ con, phụ nữ dân tộc ai cũng hút thuốc, người già hút bằng tẩu còn người trẻ thì có cô ngậm một điều thuốc lá to như điều xì gà Cuba, bà con dân tộc ở vùng này khá thân thiện. Phụ nữ ai cũng làm việc còn đàn ông thì thường ngồi chơi, uống rượu hoặc chạy xe máy vù vù ngoài đường.




Qua Thạnh Mỹ, nhất là qua cầu A Sờ đường càng nhỏ dần, đường loanh quanh trên núi không còn là đường nhựa mà là đường bê tông, mặt đường không được uốn theo khúc cua cong để xe bám đường mà làm ngang, đôi chỗ mặt đường nghiêng theo hướng ngược lại với góc cua, mấy đoạn này ôm cua không giảm tốc dễ bị văng xe xuống vực. Chúng tôi gặp hai chiếc môto dừng bên đường, đó là Tony, một khách du lịch người Úc và một người hướng dẫn viên Việt Nam, họ đi xe moto từ Đà Nẵng, chỉ làm một vòng ngắn lên núi rồi lại trở xuống trong khi vợ con của Tony vẫn còn vui tắm biển. Tony khá thân thiện và vui tính, ông hết lời ca ngợi cảnh đẹp hùng vĩ của Trường Sơn.



Đoạn từ P’rao đi A Tép cho đến hết A Roàng hầu như là đường rừng, tuyệt nhiên vắng người, may mắn lắm chúng tôi mới gặp một chiếc xe máy, có lúc đi mấy chục km không gặp một người nào. Nhưng phải công nhận đây là đoạn đường tuyệt đẹp và ấn tượng bởi khu cảnh núi rừng nguyên sơ và chập chùng, trên đỉnh núi chúng tôi chạy vòng vòng, có lúc nhìn thấy trời xanh mấy trắng có lúc lại sa vào một đám mây mù, sương núi. Hai bạn đồng hành bấm máy ảnh liên tục trong khi tôi ôm vô lăng xoay đảo hết cua trái đến cua phải, có cảm giác như đang lái một chiếc trực thăng chiến đấu với hai tay súng bên cạnh, tiếng tạch, tạch, tạch liên hồi của màn trập máy ảnh là tiếng động duy nhất trên nền nhạc của những bản hùng ca Trường Sơn.











Qua khỏi hầm A Roàng 1 và A Roàng 2, chúng tôi bắt đầu hạ độ cao, dù lúc này xe chạy song song với đường biên giới Việt Lào, chúng tôi gặp những bản làng của người dân tộc, những con suối ở đây bắt đầu có màu xanh, một màu xanh ngọc bích đẹp đến nao lòng, cứ như có ai đó đã đổ thật nhiều mực xuống dòng nước trong vắt. Những bản làng với những mái nhà nhỏ, ruộng lúa nước phía sau làng làm ta có cảm giác đang ở một vùng quê bắc bộ nào đó, thực chất đó vẫn là những bản làng người dân tộc.









Qua địa phận A Ho, trước khi đến A Lưới chúng tôi gặp một cảnh vui mắt, từng đoàn học sinh đi xe đạp trên đường, điều kỳ lạ tất cả các em đạp xe một mình và đều vịn tay vào nhau, hai xe, ba xe, bốn xe đều vịn tay vào nhau tạo ra một liên kết vững vàng trên đường. Chúng tôi đoán nhiều lý do, có thể do vùng này nhiều dốc, nhiều gió, có thể do việc đi vịn vào nhau sẽ đỡ mệt hơn, có thể đơn giản là các em học sinh thích đi như thế cho dễ nói chuyện, dù sao đó cũng là một hiện tượng rất lạ, mà không đâu có.





Chúng tôi đến A Lưới cũng đã quá bữa trưa, đi loanh quanh tìm chỗ đổ xăng thì cây xăng nào cũng đóng cửa ngủ trưa, buổi trưa A Lưới hầu như không ai bán cơm nên chúng tôi đành vào quán bún bò ăn qua bữa. Ở đây chúng tôi gặp một đôi bạn trẻ cao nghều người Tây Ban Nha đang dừng chân sau khi chạy moto từ Huế lên, đôi bạn này đã chạy moto từ SG ra đến Huế bằng đường QL1, họ nói rằng đã chán cảnh đông đúc ở QL1 nên muốn tìm chỗ vắng vẻ, họ dự định sẽ vào đường HCM nhánh Tây. Tôi nói chúng tôi cũng đi đường đó và khuyên họ nên nghỉ lại Khe Sanh trước khi vào đường HCM Tây, vì đường đó cực kỳ vắng vẻ và nguy hiểm. Họ ok, chúng tôi hẹn nhau sẽ uống bia ở Khe Sanh.



Ăn xong tôi lại đổi lái cho bạn Thắm vì nghĩ rằng đoạn từ A Lưới đi Khe Sanh khoảng 140km khá đơn giản, nhưng thực ra không phải. Vừa ra khỏi A Lưới chúng tôi va phải cái đèo Pêke, đèo tuy ngắn nhưng dốc cao và góc cua cũng khá ngặt, bạn Thắm sau mấy lần đèo giờ đã tự tin hơn nhiều, tuy vậy Pêke vẫn là con đèo khó mà tôi khuyên là không dành cho lái mới. Sau Pêke thì bạn Thắm chạy tốt, để tôi tha hồ chụp ảnh từ đó đến Khe Sanh.






Chúng tôi toàn gặp người dân tộc, những người khá thân thiện nên thoải mái dừng lại chụp ảnh cùng họ. Trên một con dốc dài tôi gặp mấy đứa trẻ chơi một trò chơi kiểu như ván trượt, được làm từ những mảnh gỗ có gắn bánh xe giúp chúng trượt vèo vèo xuống dốc. Bọn trẻ chơi hồn nhiên như thể con đường được làm cho chúng chơi nên tôi không nỡ nhắc dù thấy đó là một trò nguy hiểm nếu gặp một chiếc xe đổ dốc với tốc độ cao hơn.







Thấy người dân tộc dễ thương dù họ biết rất ít tiếng kinh chúng tôi quyết định sẽ vào sâu trong bản chơi và chụp ảnh. Chúng tôi gặp một bà lão, có vẻ như là xếp ở bản vì nhà bà to nhất, ở giữa trung tâm  lại có trâu buộc phía trước, bà lão bập bẹ tiếng kinh, giới thiệu căn nhà không quên chỉ ông chồng bị bịnh nằm ở nhà đã 8 năm. Tôi vẫn thắc mắc rằng họ không biết nhiều tiếng kinh nhưng nhà nào cũng có ăng ten chảo của VTV hoặc của K+.






Sau khi chụp ảnh ở cây câu ĐắkRông huyền thoại, chúng tôi hòa vào dòng xe xuôi ngược trên đường 9 để lên cửa khẩu Lao Bảo, qua khỏi trạm trạm kiểm soát cửa khẩu là đến địa phận Khe Sanh. 




Cái tên Khe sanh quá nổi tiếng, không những ở Việt Nam, ở Mỹ mà ở bất cứ nơi đâu con người có nhắc tới chiến tranh, Khe Sanh là cửa ngõ vào miền nam theo đường Trường Sơn nên người Mỹ đã lập một căn cứ được mệnh danh là “Điện Biên Phủ thứ hai”, đó là lý do mà Khe Sanh luôn là một trận địa ác liệt nhất từ trong một thập kỷ từ đầu 1965 đến năm 1972, hàng vạn người đã ngã xuống để bảo vệ tuyến đường HCM và để chiếm ngã ba biên giới, cửa ngõ của đường 9 huyền thoại.  Chúng tôi dừng ngay ngã 3 tượng đài chiến thắng Khe Sanh để thắp hương, tưởng nhớ những người đã nằm xuống ở mảnh đất một thời máu lửa này.





Buổi tối ở Khe Sanh bắt đầu lạnh và sương giăng ngập thị trấn, chúng tôi đi bộ qua một quán gần khách sạn và thưởng thức món thịt dê ngon nhất trần đời. Chúng tôi lại bày rượu ra uống, uống mừng quãng đường Trường Sơn hùng vĩ mà chúng tôi đã đi qua hôm nay, uống với Khe Sanh anh hùng bất khuất, mãi mãi không bao giờ bị lãng quên trong tâm trí người Việt Nam, uống cho ngày mai, cho cung đường Hồ Chí Minh tây hoang vắng với đèo cao vực sâu, chốn uy linh mới thực sự là thử thách của toàn bộ hành trình.

6 nhận xét:

  1. Hy vọng một ngày củng được như bác,phiêu du khắp mọi miền đất nước

    Trả lờiXóa
  2. Hình đẹp quá, không được đi nhưng coi ké cũng thích lắm:) cám ơn anh Phú.

    Trả lờiXóa
  3. Cảm ơn anh chị đã chia sẻ những trải nghiệm của chuyến đi để những bạn như em dù chưa một lần đặt chân đến Trường Sơn cũng thấy yêu lắm thiên nhiên, đất nước con người Việt.

    Trả lờiXóa
  4. lại mong đọc tiếp '' hành trình Trường Sơn 4 '' của anh Phú ...........

    Trả lờiXóa
  5. Cám ơn anh Phú về bài viết thú vị và những bức ảnh tuyệt đẹp. Chi tiết người dân tộc không biết tiếng Kinh, nhưng nhà nào cũng có angten chảo thể hiện chính sách tuyên truyền của chính phủ đối với người dân tộc. Tôi cũng nhìn thấy hình ảnh tương tự khi đi Dak lak vào năm 2009.

    Trả lờiXóa

Cảm ơn bạn đã xem bài viết này. Hãy để lại ý kiến hoặc chia sẻ của bạn cùng tác giả nhé. Nhớ để lại tên để tôi còn cảm ơn bạn.

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...