Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2013

sách chưa (& chưa biết khi nào) in của ĐHP

Chương 1: Em Dịu, Bảy Hiền

Cái xe đò không vào bến như anh tưởng, còn cách bến chừng non cây số thì nó tấp vô lề, chỗ đang làm đường, cống bê tông và đất đá ngổn ngang. Tới Sài Gòn rồi, xuống xe cô bác ơi, thằng phụ xe chừng mười lăm tuổi vừa đập tay vô thùng xe vừa la bải hoải. Người đã thức thì lục đục lấy đồ, người ngái ngủ còn lầm bầm chửi, có tiếng hỏi nhau bằng giọng miền trung nặng trịch, đâu, bến xe đâu, sao dừng đây, là chỗ nào… nhưng người ta vẫn xuống xe. Anh đi sau hai vợ chồng thợ hồ với cái rương bằng tôn to ngất, chậm rãi tràn ra khỏi cửa xe, chân rơi chạm xuống Sài Gòn, Sài Gòn của mơ ước anh. Chân anh như nhũn lại, loạng choạng bước theo dòng người, không biết do ngồi co chân quá lâu, hay do đất Sài Gòn nó khác, chưa quen chân.

Anh bỏ qua cả chục gã xe ôm nháo nhào, lầm lụi bước,  đưa tay nhìn đồng hồ, Sài Gòn bốn giờ mười phút sáng, một ngày mùa xuân, con đường đang sửa, đầy cống bê tông và đất đá ngổn ngang, ánh đèn vàng từ trên cao leo lét soi một chút sương sớm, hàng quán đã lục đục bày biện, giữa đường, những xe máy chở hàng chạy ào ào, đông lên từng phút. Anh thấy mình tỉnh táo kỳ lạ, dù trải qua một đem trắng trên chiếc xe đò ạch đụi từ hơn năm trăm cây số, bước chân Sài Gòn, Sài Gòn bốn giờ mười phút sáng, một ngày mùa xuân, tiếng động cơ xe rít bên tai anh, càng lúc càng nhiều, chưa có mặt trời mà thành phố đã ầm ì chuyển động, như một cỗ máy khổng lồ. Anh đi về phía sáng hơn, nơi ánh đèn hắt lên nền trời đẫm sương đêm một quầng sáng rực rỡ, của Sài Gòn.

Anh không nhớ mình biết tới Sài Gòn là lúc nào, chắc là từ lúc anh bắt đầu hình dung rằng có nhiều nơi khác ngoài cái thị trấn bé nhỏ ven biển của mình, hoặc giả là qua ba anh, người mà sau này anh mới biết rằng thực ra cũng không phải ba ruột, mà thôi, chuyện đó quan trọng gì. Bản thân cái giọng nói miền nam ấm áp, tròn trịa, vang vang của ba anh đã là một đặc sản, dù lạc lõng ở xứ miền trung đầy gió và nắng đến mức âm tiếng của loài người bị méo mó biến dạng, nên mọi người thường gọi ba anh là anh Hai Sài Gòn, à, có lẽ anh biết tới Sài Gòn là khi bắt đầu biết yêu ba, dù sau này anh biết ông không phải ba ruột của mình. Ba anh cao lớn, khỏe mạnh và luôn cười sảng khoái, ba anh yêu thương má anh, yêu thương anh, hào phóng với mọi người chung quanh, không bao giờ chấp nhứt câu nệ chuyện gì, ông khác hẳn với chòm xóm, những người thường nhỏ thó, đen xẹm vì hơi muối, luôn thất chí và thường chửi rủa người khác… mỗi khi người ta nói về ba anh, họ không nói tốt, họ chỉ đơn giản nói rằng đó là anh Hai Sài Gòn mà.

Anh Hai Sài Gòn bán quán, nói thẳng là quán nhậu, nhưng mà người ta thường ăn hủ tíu ở quán nhiều hơn, thậm chí cả khi uống rượu, khách vẫn gọi hủ tíu thay cho mồi bởi hủ tíu là món lạ ở xứ này mà, và chủ quán, dĩ nhiên là uống nhiều rượu nhứt. Hầu như anh ít thấy ba anh tỉnh táo, kể cả sáng sớm, ông thường ở trần, người luôn nồng nặc mùi rượu, đỏ ửng như một con gà chọi, đặc biệt là mảng da từ phía dưới hai tai chạy xuống hết lồng ngực. Má anh từng làm y tá, bà đã nghỉ lâu rồi, nhưng vẫn nhận chích thuốc, chuyền nước biển hoặc kê đơn cho mấy người quen bị cảm cúm ho hen.

Trái với ba anh, má anh nhỏ người, không đẹp lắm nhưng duyên, má không thoải mái vui vẻ như ba, lúc nào trông má cũng buồn buồn, dù có cười thì trong đáy mắt mà luôn có một giọt nước, đâu đó, không thấy được nhưng tưởng như sắp tràn ra ngoài. Nhà ngoại anh cách nhà anh chừng hai mấy cây số, trong quê, trồng lúa, không xa lắm nhưng anh ít thấy má về, mà có về cũng mau trở lên. Còn ba anh, dĩ nhiên đến từ Sài Gòn, nhưng chưa bao giờ thấy ổng trở lại Sài Gòn, dù luôn luôn, trong mọi câu chuyện nhắc chừng, hình ảnh Sài Gòn đều xuất hiện.

Anh thần tượng ba mình. Anh mơ về Sài Gòn, anh biết rành từng địa danh, quận tư quận tám, cầu Kiệu, Bảy Hiền, Bình Đông… có một bản đồ trong anh, có một Sài Gòn trong anh, dù chưa từng đặt chân đến Sài gòn, tất cả chỉ từ anh Hai Sài Gòn, người mà anh biết không phải là ba ruột.

Anh quyết định đi Sài Gòn sau hôm giải ngũ chỉ vài ngày, chỉ tạt về với má anh, vài câu han hỏi, chút quà. Đôi mắt má vẫn có hai giọt nước phía sau. Lúc tiễn anh ra bến xe, má chỉ nói có một câu, đi đâu cũng nhớ về thăm má nha con. Anh quay mặt, cố ngăn mình đừng trào nước mắt, vẫn không hiểu vẻ u buồn cố hữu của má.

Anh đi, vì mưu sinh lập nghiệp, hay là nói cho đúng thì anh đi chỉ vì anh cần đi và còn vì một sứ mệnh của anh Hai Sài Gòn trước khi chết đã giao lại cho anh, đi tìm một người phụ nữ trong một tấm ảnh cũ và nói với cô ấy một bí mật, một câu chuyện mà anh Hai Sài Gòn đã mang theo về xứ miền trung quê anh suốt hơn hai chục năm qua. Tấm ảnh, là một tấm ảnh trắng đen được tô màu, chụp một cô gái, độ ngoài hai mươi, mặt sau chỉ ghi có mấy chữ, “em Dịu, Bảy Hiền”. Anh phải tìm được “Em Dịu” này, mà anh chắc giờ cũng cũng trạc tuổi má anh, chỉ để nói ra một bí mật, một thứ mà anh Hai Sài Gòn không thể mang theo xuống mồ dù đã giấu kín nó hơn hai chục năm. Anh Hai Sài Gòn đã giấu điều bí mật đó ở đâu, có phải trong hai giọt nước sâu thẳm trong đáy mắt má anh chăng, đôi khi anh tự hỏi vậy.

(còn tiếp)

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2013

Văn Tế Tuyển U23 VN

Văn Tế Tuyển U23 VN
(kính cụ Đồ Chiểu)


Hỡi ôi ! 
Trống trận tan rồi
Nát lòng người hâm mộ

Hai năm trông ngóng, chờ ngày thi thố chốn ao làng
Một trận thua Mã Lai, cuốn cờ về tủi hổ

Nhớ hồi xưa 
Bao cấp khó khăn
Riêng lo nghèo khổ, 

Chưa quen đấu trường khu vực
Chỉ đá giao hữu giao lưu

Chém đinh, chặt sắt từng đã làm quen
Bài binh bố trận mắt chưa từng ngó

Si Gêm 18, trở lại giang hồ, dù không vô địch cũng nức lòng dân
Ngang tài ngang sức, dũng mãnh uy song, qua vòng bảng đã thỏa lòng hâm mộ

Những tưởng dũng như Huỳnh Đức, mưu tựa Hồng Sơn từng nằm mơ vàng
Nào ngờ đám hậu duệ Văn Quyến, Văn trương nhắc càng thêm hổ

Thưởng thì treo hàng tỉ mà thua thì vẫn hoàn thua
Đá thì ẩm ương mà cứ hay lý này lý nọ

Xấu hổ thay 

Coi chị em quần hồng chân yếu tay mềm mà mấy mùa vô địch
Kẻ bán bánh mì người cắt cỏ mà xông trận là khí thế ngất trời

Thương chị em, 
Ra quân không người đưa, cờ hoa không có mà cúp mấy cái đem về
Liên đoàn không thèm nhắc, thưởng không đáng mấy đồng mà huy chương ôm từng bó

Cũng thầy nội mà chinh bắc phạt nam
Ăn mì tôm mà không kiềng đối thủ

Còn các ngươi,
Có người đá vài trận đã học đòi ma túy siêu xe 
Vài đứa có chút tên đã tập thói làm càng, chảnh chó

Có người coi sắc áo là tiền, sang nhượng cũng tính bằng đô
Lại thằng lấy màu cờ làm bổng lộc, được thể đòi này đòi nọ

Tiền hô hậu ủng mà ra sân chạy vật chạy vờ
Nhuệ khí làng nhàng mặc trống kèn cổ võ

Nhưng nghĩ rằng 

Có thua mới biết tướng dở quân hèn, từ nay bỏ thói đổ thừa 
Về nước mở ti vi coi chị em xông trận, để học làm xấu hổ

Vì ai khiến đội mình thua vẫn hoàn thua
Vì ai xui hai mươi năm giậm chân tại chỗ

Đám Liên Đoàn bất tài ăn trên ngồi trốc, nghĩ lại thêm buồn; 
Vê Ép Ép tham lam tranh quyền đoạt vị, nghe càng thêm hổ. 

Về cổ võ chị em, lấy nhục làm vinh, 
Hơn tốn tiền thuế của dân mà chuốc hổ

SG18-12-13 DamHaPhu

Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

đàn cò trắng sang sông

...

đàn cò trắng sang sông

1.
mới đây, hai vợ chồng đang từ miền tây về, đi ngang sông Vàm Cỏ lúc trời chiều chạng vạng, sương là đà phủ, mặt sông lục bình trôi xanh, bỗng thấy một đàn cò trắng dễ đến trăm con, đương bay sang sông. Đó là một cảnh tượng đẹp lộng lẫy, dĩ nhiên tôi không kịp lấy máy ảnh vì chạy xe trên đường cao tốc, nhưng cảnh tượng đó đã được lưu vào tâm trí tôi, như những cảnh tượng lộng lẫy khác mà tôi từng chứng kiến, như hai cái cầu vồng rực rỡ sau cơn giông biển ở Phan Rí Cửa, như đồi lau trắng bạt ngàn lúc uống rượu với A Khuê ở Đồng Xoài, như nửa đêm trăng lên đứng nhìn biển mây bồng bềnh trên đỉnh đèo Hải Vân....

2.
hôm rồi coi một cái phim, hình như là Blue Lagoon, The Awakening, phim cũng tầm thường, chỉ nhớ một cảnh, lúc hai bạn trẻ mới lạc lên đảo, họ vô tình đến một cái thác nước thật đẹp, chàng trai rủ cô gái chụp hình và tắm, nhưng cô gái chỉ muốn đi tìm khách sạn, đó là một cô gái nghiêm túc với ước mơ đậu vào đại học, hình như là Princeton . Chàng trai nói: cậu có biết có bao nhiêu người đậu vào trướng đó không? nhiều lắm. Còn có bao nhiêu người nhìn thấy thác nước đẹp này? Chỉ có chúng ta.

3.
nhiều người hỏi tôi, sao không đi chỗ này, sao không đi chỗ kia, ngắm hoa đào nở ở Nhựt Bổn, hay nhìn tuyết rơi ở Nữu Ước... tôi không có điều kiện để đi khắp thế gian đâu, mà tôi cần chi đi khắp thế gian, khi chỉ cần ra khỏi thành phố là gặp cảnh một đàn cò trắng sang sông, hay cảnh những chái nhà nhấp nhô trong biển lúa, hay nắng tỏa khói đốt đồng chiều... những cảnh lộng lẫy như thế.

4.
đôi khi chúng ta tự dằn vặt mình với thứ mà chúng ta không có được, mà không trân trọng thứ mình đang có. Ta không thể có mọi thứ, người á châu muốn có sự văn minh của người âu châu, người âu châu châu thèm sự phóng khoáng của dân phi châu...

5.
hãy nhớ rằng ta không thể có mọi thứ


11-12-13

Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013

Sài Gòn, bao nhớ…





Lần đầu tôi đến Sài Gòn, năm 91, tất nhiên có hàng ngàn thứ lạ lẫm, một trong đó là chữ “bao”. Đầu tiên là gặp vựa trái cây, quận Tám bộn, có lẽ do ngay bến ghe thương hồ từ miền tây lên nên trái cây ngon, trái cây bao ăn. Tôi ghé vô hỏi thẳng, bao ăn là sao chú. Ông lão, tay chụp thơm ném dưới ghe lên thoat thoắt, miệng ngậm thuốc rê, trả lời gọn lỏn, ăn thoải mái, thích thì mua không thích đừng. Vậy là ghé thử liền, chôm chôm vĩnh long trái đỏ lựng, lột ăn thoái mái, sầu riêng tách vỏ sẵn, muốn ăn lấy tay xé ăn, măng cụt có con dao thái cắm miệng cần xé, ăn trái nào hớt đầu trái đó… Ăn xong, đã nư rồi mua mỗi thứ một ít, làm quà, cân 3 ký chôm chôm xong chị bán hàng còn bốc thêm vài bốc bỏ vô, một chục măng cụt tính 14 trái, mua trái sầu riêng được tặng luôn trái hồi nãy mới thử.

Lần nữa là chuyện bao rẻ, là chỗ bán đồ sida đường Nguyễn Đinh Chiểu, tôi mua cái áo jeans, chị bán áo nói đồ ở đây bao rẻ, đi đâu rẻ hơn lại đây chị đền, mua bận xong đi đi lững thững xuống cuối dãy, thấy cái áo y chang, hỏi ra giá rẻ hơn, tôi thiệt tình quay lại bắt đền. Chị bán hàng cũng thanh minh thanh nga, nói đồ cũ, tùm lum giá, nhưng mà đã bao rẻ thì chị tặng thêm cái nón jeans cho đủ bộ, lỗ của chị hai chục rồi nha. Vậy là vui lòng liền.

Xưa thời sinh viên, tôi sống thoải mái nhờ mấy quán chuyên bao thiếu, thiếu thoải mái, không cần cầm cố, không cần danh tánh, không cần ai bão lãnh. Cơm có chị Phượng, café có quán Ngọc, nhậu có quán anh Tiên, ngày nào cũng một cữ cơm, một cữ café và một cữ nhậu. Không tiền cũng cứ vào quán, kêu những món quen thuộc, xong cứ đứng lên đi, đưa tay làm dấu trên không như chữ ký, rồi ra về, tiền bạc cuối tháng có tiền thì trả, không có hai ba tháng trả, nhiều đứa ra trường đi làm cả năm rồi mới quay lại trả, bình thường, người ta bao thiếu thì mình bao trả, không so đo.

Có lần tôi đánh nhau với giang hồ ở Thủ Đức, hai bên đánh xáp la cà, ném không biết bao nhiêu là ly chai, đánh xong đi về, băng giang hồ kia quay lại gặp chủ quán, bao nhiêu ly chai bàn ghế bị bể cứ nói một tiếng, đền đầy đủ. Lần khác tôi uống rượu với giang hồ bến xe Chợ Lớn, uống từ trưa, đến tối thì hết mồi, một anh trong bọn nói bữa nay ở nhà bà già nấu món gì đó, lâu quá tôi quên, để tao chạy về xin bả, nói đoạn ra dựng chiếc cối, chắc là có độ lại, rồ ga quay xe xẹt lửa, lao đi. Chẳng may màn biểu diễn xe không chuẩn lúc đã say, anh chàng bốc đầu quá chớn, xe quăng tới trước người rớt lại, chiếc xe quăng tới đụng vô một cái tủ thuốc, bể miếng kiếng, văng thuốc lá tùm lum. Chị bán thuốc chửi anh giang hồ, lúc này đang đau đớn lồm cồm dậy dắt xe, chửi té tát. Anh chàng đó, tôi nhớ là ở trần, người ngợm xăm vằn vện, thẹo thọ, nhăn nhở cười xin lỗi chị bán thuốc nọ rối rít, nói, thôi bà làm gì dữ vại, đừng chửi nữa, bao nhiêu tui đền, tui đền. Sau nhậu lại, mình nói anh chơi hay quá, ảnh nói, giang hồ với nhau chớ không giang hồ với người ta, mình sai phải xin lỗi, phải đền chớ, ui, nói nghe, dân sài gòn chơi bao đẹp, không đẹp không ăn tiền nha.

Sài Gòn đúng nghĩa buôn bán là vậy, xưa vậy, giờ hao mòn nhiều nhưng nếu gặp đúng người Sài Gòn, người miền tây thì vẫn còn. Trái cây bao ăn, bao ngọt, đồ ăn bao rẻ, quần áo bao đẹp, đậu xe bao trật tự, đi nhậu bao say, chơi bao vui, quán xá bao thiếu, hàng hóa bao thử, bao đổi, bao trả, kể cả tivi đầu máy điện thoại, mua rồi không ưng cũng bao trả lại luôn… “bao”, nghĩa là cam kết miệng rằng bạn phải hài lòng với cái mà bạn nhận được, bao hài lòng, cái chữ bao đơn giản nghe như chơi rồi bỏ, nhưng nó là cam kết nghiêm túc và hào hiệp, rất riêng, của người miền nam. Nhiều người buôn bán sau này từ nơi khác tới, học đòi chữ bao nhưng khó thực hiện, bởi muốn, phải thiệt lòng, thiệt tình, bởi không có luật nào bắt buộc phải “bao”, chỉ có thứ luật mơ hồ di truyền đâu đó từ những ngày khẩn hoang mở cõi, thời con người tin nhau, sống phải với nhau, tới bây giờ.

Bởi, tôi sống ở Sài Gòn hơn hai chục năm, tôi dám nói, Sài Gòn bao nhớ nha. Ai từng sống ở Sài Gòn, dù ghét dù yêu, dù đã ra đi tìm miền đất hứa hay quay về cố xứ sinh nhai, đều nhớ Sài Gòn, ai từng một ngày một bữa ở Sài Gòn, ăn dĩa cơm tấm tô hủ tíu bụi bặm, đi xe ôm lang bạt, ngủ nhà trọ bến xe… đều sẽ nhớ Sài Gòn, nhớ cái ồn ào bụi bặm, nhớ một mảng đời lộn xộn ngược xuôi, mạnh ai nấy sống nhưng yên tâm là ai cũng sống được, dù rất khác lạ, nhưng cũng rất thân quen, rất nhớ.


Như tôi, mỗi ngày, tôi đều nhớ Sài Gòn. Sài Gòn bao nhớ mà.

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

chuyện nhỏ Sài Gòn (phần 2)

...

1.
Dọc bờ kinh mới làm được qui hoạch như công viên nhỏ với lan can, lối đi bộ và luống cây, gần đây dân câu cá ra ngồi nhiều, người đi bộ còn ít, do chưa có bóng cây. Mấy cái cây mới trồng, cao chừng hơn đầu người, dỡ chống rồi nhưng vẫn còn yếu, nhứt là mấy buổi chiều gió. Có mấy anh công nhân đem dây kẽm néo thân cây lại, như kiểu néo cột buồm. Chỗ dây kẽm cột vào thân cây, anh công nhân cẩn thận dùng một đoạn ống cao su luồn qua rồi mới cột vào cây. Để chi? Để sợi dây kẽm đừng có siết vô vỏ cây mỗi khi có gió, biết là hổng sao, nhưng mà hổng đành.

2.
Góc đường quẹo vô hẻm cặp theo bờ tường một công ty, có ba người đóng đô ở đó, lâu rồi. Đầu tiên là anh sửa xe máy mà chủ yếu là vá xe bằng cái máy bơm hơi nhỏ được câu điện nhờ từ phòng bảo vệ, một chú thợ sửa khóa và một anh thợ may chuyên sửa đồ, thường cắt quần jeans.  Mỗi anh có một tấm bạt nhỏ, một đầu neo vô bờ tường, một đầu chống bằng cây tầm vông, đủ che nắng, riêng anh thợ sửa đồ được thêm cái panô khẩu hiệu khu phố văn hóa chỗ cái trụ đèn nên rộng rãi hơn chút, đủ kê ba cái ghế mủ cho khách ngồi chờ lấy đồ, rảnh rỗi hai ông kia cũng qua góc đó café tránh nắng hoặc nói chuyện.

Có bữa ông Trời làm mưa cả ngày, buổi chiều muộn trời vẫn mưa tầm tã, ba ông vắng khách tụ lại chỗ anh thợ may, một chai rượu, một cái ly với gói mì bẻ vụn đặt trên một cái ghế mủ, họ chỉ ngồi lặng lẽ, đến phiên ai nấy uống. Một người phụ nữ mặc áo mưa đi bộ quẹo vô hẻm, bà có vẻ đang xách nặng, một túi đồ khiến bà phải đi nghiêng người, anh thợ sửa khóa nhanh chân đứng dậy, chạy ra, đỡ một tay cho bà. Anh cầm túi đồ bằng hai tay, chạy từng bước dài, qua mấy vũng nước mưa vào hẻm, đặt nó trước một căn nhà nhỏ, bấm chuông rồi lại chạy từng bước dài trở ra, phủi mưa trên tóc rồi sà xuống bàn nhậu.

Người phụ nữ đi ngang chỗ mấy người uống rượu, mỉm cười nói câu cảm ơn, rồi tiếp tục đi về nhà của mình. Chừng năm phút sau, từ trong căn nhà đó, một cô gái xinh đẹp mở cửa, luống cuống vì một tay cầm dù, một tay cầm dĩa đồ ăn nghi ngút khói bước ra, đi về đầu chỗ bàn máy may, đặt lên ghế một dĩa mì xào với cải xanh và thịt bò, có cả mấy cọng ngò xanh, mấy trái ớt đỏ và ba đôi đũa tre, loại đũa dùng một lần. Cô gái bẽn lẽn nói, má con mời mấy chú mồi nhậu. Ba người đàn ông cười lớn, cảm ơn, rồi lại tiếp tục, đến phiên ai nấy uống. Sài Gòn vẫn mưa tầm tã

3.
Cái hẻm nhỏ thông ra hẻm chính bị bể cống, sẵn có nhiều nhà mới xây trong hẻm nên bà con hùn tiền làm cống mới, thông ra cống chính. Hẻm nhỏ, lại cụt, nên việc thi công khó khắn vô cùng, thầy thợ ông Bảy toàn phải làm đêm. Mấy bữa nay đào hết để nối ống nên cực dữ, lúc nào cũng có sẵn mấy tấm ván, hễ xe máy nào ra vô thì có người thợ ra lót đường, hoặc dắt xe phụ.

Buổi đêm, một cô gái nhỏ nhắn, nhảy chân sáo qua chỗ mấy người thợ đào cống, đi ra đầu đường, đến một xe bánh mì heo quay, cô xòe bàn tay ra với người bán bánh mì, một hai tờ tiền cuộn tròn, bán cho má con mười ổ. Chị bán xe bánh mì có lẽ mập gấp đôi ông chồng đang đứng quấy ly café đá ngay đó, chị gần như hét lên với anh chồng: mười ổ, vô phụ coi! Rồi quay qua cô bé: Ổ mười lăm nha. Tiếng dạ gọn lỏn rơi mất giữa dòng xe.


Hai vợ chồng làm thoăn thoắt, cái bọc bánh mì nhanh chóng được trao cho cô bé, người chồng lại quay mặt quấy ly café của mình còn chị vợ hỏi giật cô bé: mà nè, mua cho ai dữ vậy, nhà mày có hai má con ăn sao? Cô bé cười, dạ má con đâu có ăn bánh mì, má biểu mua cho thợ chú Bảy đang làm cống, tại đêm nay chú Bảy nói làm nguyên đêm cho xong. Chị bán bánh mì khựng lại một giây, rồi nói, chờ chút, vậy thôi tính má mày một trăm thôi. Chị mở ngăn kéo đưa lại cho cô bé tờ năm chục ngàn. Cô bé cầm tờ tiền lóng ngóng, còn chưa hiểu hết câu chuyện thì chị bán bánh mì đưa tiếp cho cô một gói thuốc, nè, mày đưa ông Bảy gói mèo giùm tao, biểu chả làm lẹ giùm, bụi thấy mẹ rồi.

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Chiếc rương của mỗi người

Chiếc rương của mỗi người
                             (cho bạn bè mười tám)

ai mười tám tuổi ngày rời xa gia đình chắc đã từng được tặng một cái rương cho cuộc đời tự lập của mình, tôi cũng có một cái, cái rương của tôi có vỏ bằng thiếc, được một người bác sĩ đàn anh tặng, người bác sĩ đó được một người chú tặng... và tôi sau này, dĩ nhiên tôi đã tặng cái vỏ rương đó cho một người trẻ khác nữa rồi.

ai mười tám tuổi khi bước vào đời, dù vào đại học, vào quân đội hay vào một công trường nhà máy, hay tệ lắm là vào một băng đảng giang hồ nào đó, bắt đầu dành giật chút số má đầu tiên, hẳn đã từng bắt đầu với một cái rương, đầu tiên là quần áo tư trang, rồi đến kỷ vật giấy tờ, rồi đến chút tiền, một vài lá thư hoặc cái nhẫn được cuộn trong mấy lần bao gói, dấu kỹ dưới đáy.

ai mười tám tuổi cũng từng đặt tất cả đời mình vào một cái rương, ra đi với bao nhiêu suy tư và mơ ước, ra đi rồi không trở về với nó. Cái rương nhỏ thôi, nhưng gói đầy gói đủ, cả những năm tháng ngông cuồng, những đam mê cuồn cuộn, những yêu thương hào hiệp của một thời tuổi trẻ. Tôi cũng từng có một cái rương như thế. Tôi vẫn cất nó ở đó, chỗ của hôm qua, chỗ của những thứ mà thời gian không còn lay được nữa.

ai mười tám tuổi cũng từng nhiều đêm ngủ ở nhiều vùng đất xa lạ với những người xa lạ, chỉ bên cạnh là một cái rương thân thuộc, cái rương là bạn đường là bạn đời của những ngày tháng thanh xuân nghĩ mình tài giỏi mà thực ra là đang trôi theo cuộc đời, rồi đến khi không trôi được nữa, cái rương thành cái neo, thành cái bến. Một cái rương nhỏ có linh hồn của một nếp nhà, của một cuộc đời.

Hãy yêu cái rương của mình.

Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

Giáo Sư


... kính tặng Giáo Sư Lợi

Thực ra không ai biết lý do từ đâu họ gọi ông là Giáo Sư, chỉ một số người lớn trong hẻm biết, biết nhiều nhứt có lẽ là Tư Danh, nhưng cũng không mấy người muốn nói, đại khái cư dân trong hẻm biết rằng đó là một người đàn ông lịch lãm, trí tuệ và nghiện rượu. Họ gọi ông là Giáo Sư vì nghe đâu trước đây ông có dạy học ở Đại Học Sài Gòn, gọi riết thành quen tên, Giáo Sư thành như tên của ông, đến nỗi cái quán nhậu không tên chỗ ông hay ngồi ở ngã ba của hẻm cũng dần dần bị gọi là quán Giáo Sư, hay ông xe ôm hay chở ông đi đây đi đó cũng bị gọi luôn là xe ôm Giáo Sư. Trong hẻm, sau Tư Danh thì vợ chồng anh Tư Xe Ôm luôn được Giáo Sư tín cẩn nhứt.

Giáo Sư dáng cao ráo, có lẽ đã ngoài bảy mươi, mái tóc bạc lưa thưa nhưng luôn được chải nếp cẩn thận, trên túi áo ngực của ông luôn có một cây lược nhỏ, được gài chung với một cây bút pa ke chánh hiệu. Trừ những lúc quanh quẩn trong nhà thì hầu như lúc nào ông xuất hiện cũng bảnh bao, dù chỉ là loanh quanh trong hẻm rồi đi uống rượu, quần khaki màu sáng, áo sơ mi trắng ngắn tay có áo lót phía trong, giày xăng đan có quai hậu. Ông luôn đi đứng khoan thai, ánh mắt luôn toát lên nụ cười tươi, dù có tỉnh hay say thì cũng ít ai thấy ông không cười. Ông nói giọng bắc, thứ giọng bắc năm tư đã pha trộn, người trong hẻm rất thích nghe ông nói chuyện, có người chỉ xin ông nói đi nói lại chữ “Xài Goòng”, nghe đã lỗ nhĩ gì đâu. Nhìn bề ngoài ông khác hẳn với những người còn lại trong hẻm, nói chung nếu bất chợt nhìn lại một cách dò xét, ông như một mẫu người lưu cữu từ đầu thế thế kỷ 20.

Cư dân trong hẻm ai cũng mến Giáo Sư. Ông thường xuất hiện từ 10 giờ sáng, đi một vòng hẻm, chào hỏi hết thảy mọi người, bất kể nam phụ lão ấu, ông luôn chào họ với kiểu chào cũng lịch lãm không kém, hơi cúi đầu và nghiêng mình kiểu một quí tộc châu âu thời trung cổ: chào cô Sáu, hôm nay khỏe hả cô Sáu, chào chị Hai, hôm nay khỏe hả chị Hai… tất nhiên cư dân trong hẻm không ai lại đi đối đáp với ông theo kiểu cách dị kỳ của ông, họ chỉ mỉm cười hoặc gật đầu, lễ phép hơn thì họ “cảm ơn Giáo Sư”, vậy thôi. Ông ăn một dĩa cơm tấm hoặc một tô hủ tíu, đó là bữa sáng kiêm luôn bữa trưa của ông, rồi ông ra quán Tư Danh uống café. Quán Tư Danh không có ghế nhựa, dù là quán bình dân nhưng bàn ghế mây, kiểu mây từ xưa cũ, đó là quán ông thích. Khi Giáo Sư vào thì ông ngồi chỗ quen, con Lành phục vụ sẽ đem cho ông một ly café đen không đường, rồi nó vào mở một trong mấy cái đĩa nhạc ông thích. Đôi khi Tư Danh ra ngồi với ông, ngôi thinh vậy thôi, không nói câu nào. Bất luận trong hẻm ai ra hay vào quán Tư Danh, nếu có ông ở đó thì phải luôn chào ông, mỗi khi có người chào mình, Giáo Sư sẽ kéo ghế, đứng dậy, nghiêng mình đáp lễ.

Đôi khi ông ngủ trưa luôn trong quán café hoặc về nhà ngủ chút. Buổi chiều xế là ông ra quán nhậu. Gu của ông cũng lạ, ông sẽ uống bia Sài Gòn, không đá, mỗi ly bia sẽ pha với một ly rượu nhỏ. Ít khi ông ngồi một mình, thường thì anh Tư Xe Ôm sẽ ngồi với ông, hoặc luôn có một người khách nào đó, ở đâu đó, chạy xe máy hoặc đi xe ôm tới, ngồi uống cùng ông. Đôi lúc trong cuộc rượu ông nói chuyện bằng tiếng Pháp, có lúc lại nói tiếng Anh, đa phần lúc say ông sẽ nói tiếng Pháp nhiều hơn. Tùy bữa uống nhiều uống ít, nhưng ông thường về nhà tầm 9h tối. Không bao giờ lè nhè hay chân nam đá chân xiêu như những kẻ say khác, Giáo Sư vẫn đi khoan thai, vẫn chào hỏi mọi người trước khi vào nhà.

Giáo Sư sống một mình, bà vợ ông đã mất mấy năm trước. Giáo Sư có hai người con, một gái một trai, con trai ông sống ở Mỹ còn cô con gái sống ở Canada, họ đều ở chỗ rất lạnh. Mỗi năm hai người con thường phân công về thăm ông ít nhất một lần, đem theo dâu rể và mấy đứa cháu ông. Họ không gọi ông ba, cha hay tía, gọi ông là papa. Họ ít giao du với cư dân trong hẻm, nhưng cũng như ông, họ rất lịch thiệp. Đôi khi nói chuyện với ai đó, họ thường thanh minh rằng papa không chịu qua bển với tụi này, papa sợ lạnh. Giáo Sư cũng hay đỡ lời cho con mình, ông nói mấy đứa nó kêu tôi qua bên đó, à, ông là người hiếm hoi vẫn xưng “tôi”, nhưng tôi không đi, bển lạnh lắm, có lúc dưới dê rô luôn, tôi già rồi, chịu lạnh không được.

Một lần, lúc uống rượu với Tư Xe Ôm, Giáo Sư mời vợ chồng Tư Xe Ôm về ở chung. Vợ chồng anh Tư cũng dễ thương, anh Tư trước làm bốc xếp ở chợ đầu mối, rồi tham gia đánh nhau, bị đi tù hết mấy năm. Ra tù thì mất nhà, nên vợ chồng thuê cái nhà trọ cuối hẻm, anh Tư chạy xe xôm còn chị vợ thì bán xe thuốc lá ngoài lộ. Anh Tư có một đứa con trai, nhưng nó lấy vợ ở miệt Bạc Liêu, nhà vợ có nhiều công chuyện mà ít con trai nên thằng con anh bị bắt rể luôn ở dưới, lâu lâu nó đón xe về, cho anh anh chị tiền bạc, vài ký tôm cua, vậy thôi. Mấy bữa sau đó thấy vợ chồng Tư Xe Ôm trả nhà trọ, qua nhà ở luôn với Giáo Sư. Từ có chị Tư lo cơm nước, Giáo Sư không ăn ở ngoài nữa, nhưng rượu thì vẫn uống ở quán.

Mới đầu, khi biết nhà mình có anh chị Tư qua ở với papa, hai người con của Giáo Sư cũng vui, thậm chí ngỏ lời biết ơn anh chị Tư, đi về thể nào cũng quá cáp như ân nhân. Nhưng một hôm, lúc Giáo Sư say rượu, ông nói rằng ông thật vui vì có anh chị Tư ở chung, rằng vài bữa ông chết sẽ cho lại cái nhà này cho anh chị Tư. Từ sau câu nói đó hai người con của Giáo Sư về thường hơn, những lúc anh chị Tư vắng nhà thì họ tranh cãi với Giáo Sư nhiều hơn, họ nói rất nhỏ, còn Giáo Sư thì thường hét lên giận dữ, nhưng cũng không ai biết họ nói chuyện gì, vì thường Giáo Sư sẽ nói bằng tiếng Anh, hoặc tiếng Pháp. Đó là lần hiếm hoi họ thấy Giáo Sư nổi giận, dù hai người con luôn tỏ vẻ kính trọng, lễ phép với ông. Sau đợt cãi nhau đó, cô con gái hầu như về ở hẳn với Giáo Sư , còn anh chị Tư lại dọn ra nhà trọ ở.

Cô con gái cấm hẳn ông uống rượu, nói cấm thì hơi quá nhưng cô hầu như chặn cửa không cho ông ra ngoài, thi thoảng lắm, lúc cô đi với bạn, ông tranh thủ ra quán chút, dù không được lịch sự như trước, chỉ với bộ đồ pi da ma và đôi dép, tranh thủ làm vài ly bia pha với rượu rồi về, cái dáng đi không còn khoan thai, mà lật đật trông tội nghiệp. Cô con gái của ông thật cao tay, là cô đôi lúc cũng tự nhận mình như thế, cô ngăn được ông uống rượu là việc nhỏ, việc lớn hơn là cô thuyết phục ông sang tên lại ngôi nhà ông đang ở cho một người cậu, là em của mẹ cô, đang ở miệt Thủ Đức. Giáo Sư biết việc này, ông buồn lắm, nhưng ông không nói gì, thuận theo luôn.

Rồi Giáo Sư bịnh. Ông nằm viện gần một tháng ròng, khi về nhà thì ông ốm hơn trước rất nhiều, nhưng ánh mắt vẫn toát lên vẻ tươi cười như cũ. Cô con gái phải quay về Canada sau một tháng vất vả chăm ông. Người ta lại thấy ông như xưa, xuất hiện lúc 10h sáng, lịch lãm đến kỳ dị, và uống bia pha rượu với chú Tư vào buổi chiều. Lịch lãm trở lại được hơn tuần lễ nữa thì Giáo Sư mất. Chỉ có Tư Danh là biết, nhắn với Tư Danh trước, rồi bấm máy gọi cho con xong là ông đi. Khi các con ông về thì mọi người trong hẻm đang lo hậu sự cho ông chu đáo.

Khách tới viếng Giáo Sư đông vô kể, xe máy xe hơi đậu tràn hẻm. Vợ chồng Tư Xe Ôm đeo tang trắng tiếp khách, như hai người con của ông. Hôm đưa ông đi thiêu, cả hẻm đều đi, bọn thanh nên đi xe máy, còn người già đi hai chiếc xe bus lớn, rồng rắn đi tiễn ông. Đến mấy ngày sau khi ông đi rồi, ở quán Tư Danh vẫn để ly café đen không đường ở chỗ cũ, ở quán Giáo Sư vẫn có một ly bia Sài Gòn, không đá, pha với một ly rượu nhỏ, cho ông.

Chừng hơn tháng sau khi Giáo Sư mất, Tư Danh kêu Tư Xe ôm qua nhà, đưa một bọc tiền. Tư Danh nói, Giáo Sư dặn là khi nào ổng chết mới đưa, đây là số tiền ổng để dành từ lúc con cái ổng gửi tiền về cho, có bao nhiêu ổng đưa tao giữ hết, không nhiều nhưng chắc đủ mua cái nhà, ở Gò Vấp hay đâu đó, cho vợ chồng bây có chỗ mà ở. Giáo Sư đã nói lời là giữ lời.

Vợ chồng Tư Xe Ôm sụm xuống, khóc ồ ồ như con nít.







Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

một Đà Lạt khác

...



Đà Lạt, chốn quen mà lạ

Đà Lạt là một chốn du lịch thân quen bởi thành phố được người Pháp tìm ra này có một vị trí độc đáo và hiếm có giữa miền nam một đất nước nhiệt đới. Đà Lạt được bao quanh bởi cảnh thiên nhiên đẹp và thơ mộng với đồi thông bạt ngàn, mặt hồ mênh mông, thung lũng hoang vắng hay những thác nước hùng vĩ. Đà Lạt có những sản vật độc đáo của riêng mình để phục vụ cho du khách như hoa, mật ong, các loại mứt, trái dâu, cây Atiso và đủ loại rau củ phong phú. Những may mắn đó của Đà Lạt đã trở thành một lợi thế rất lớn của một thành phố du lịch hàng đầu Việt Nam. Nhưng đó là một Đà Lạt quen, một Đà Lạt được giới thiệu trên tour hay được miêu tả qua cái nhìn của một du khách như thế. Vẫn có một Đà Lạt khác, để bạn luôn nhớ đến, và trở lại.



Có một Đà Lạt lạ hơn và đẹp hơn đối với những tín đồ của nhạc Trịnh Công Sơn. Nhạc sĩ tài hoa này có một thời tuổi trẻ gắn liền với vùng cao nguyên, và cũng chính tại thành phố Đà Lạt này, Trịnh Công Sơn đã gặp giọng hát liêu trai của Khánh Ly, để rồi từ đó những nhạc phẩm của ông trở nên bất hủ, để rồi từ đó không ai có thể hát nhạc của ông hay hơn được nữa, họ trở thành một cặp đôi huyền thoại của âm nhạc Việt Nam. Có một Đà Lạt là lạ đến rưng rưng. Bây giờ, ở đâu đó trên một quán nhỏ cheo leo con phố dốc, một buổi chiều mưa bay lất phất, trong tiếng dương cầm lặng lẽ, một thiếu nữ ca một bản tình ca cũ, cũ như thành phố này, cũ như rừng núi này, vậy mà Đà Lạt rưng rưng. Những có những người ở Sài Gòn, ở Nha Trang một năm vài ba lần đến với Đà Lạt, chỉ để uống ly café sóng sánh, chỉ để đi lên đi xuống con dốc dài, chỉ để nhìn mưa bay trên mặt hồ, chỉ để ngắm một em nữ sinh mặc áo len ôm cặp đi trong sương mù nhè nhẹ… rồi về. Một Đà Lạt khác, không phải của du lịch, mà của thơ, của nhạc, của những bản tình ca Trịnh Công Sơn không có tuổi.



Có một Đà Lạt, có lẽ đã quá nổi tiếng với những câu chuyện huyền thoại về Thung Lũng Tình Yêu, Đồi Thông Hai Mộ hay đỉnh Lang Biang mây phủ nên từ rất lâu đã trở thành điểm hẹn không qui ước của những đôi tình nhân. Cả dải đất Việt Nam từ Nha Trang trở vào nam, Đà Lạt thường là điểm được chọn để đến của một đôi uyên ương trong tuần trăng mật của mình. Tuần trăng mật ở Đà Lạt không hẳn là ngay sau một đám cưới nào đó, đó sẽ là một tuần trăng của đôi lứa yêu nhau, trước khi cưới, khi mới cưới, mười năm sau ngày cưới, ba mươi, năm mươi năm năm sau ngày cưới. Đà Lạt là đất thánh của tình yêu, của những lời thề bồi đôi lứa linh thiêng từ lúc nào không rõ, nhưng chắc chắn rằng không có nơi nào mà tình yêu đẹp lung linh như ở Đà Lạt, nơi thành phố có nhịp đời chầm chậm như chờ bạn, bởi một đêm nào đó mà bạn cùng tình nhân mặc áo len quấn khăn choàng cổ ngồi uống ly sữa đậu nành nóng phả khói vào sương đêm ở chợ Âm Phủ, nắm tay nhau thật chặt cùng lên lang thang trên những phố dốc cao hay cười vang khi thử vài loại mứt là lạ trong thương xá La Tulipe. Một Đà Lạt khác, không phải thành phố của du lịch, Đà Lạt là thành phố của tình yêu.



Có một Đà Lạt khác nữa, một Đà Lạt của người sành ăn. Khi người Pháp bắt đầu xây dựng Đà Lạt từ đầu thế kỷ hai mươi, thành phố lúc đó nằm giữa rừng núi bao phủ nên rất hoang vắng, đó là thời của những cuộc di cư lặng lẽ của nhiều gia đình quyền quí lên Đà Lạt, mang theo bếp ăn và gia phong của họ. Với khí hậu trời cho, những thứ rau củ quả của Đà Lạt có chất lượng và sản lượng cao hơn nhiều vùng khác, và kết hợp với những sáng tạo của những người di cư, chúng được chế biến để có thể chiều lòng tất cả những vị khách, dù là khó tính nhất. Có thể nói không ngoa rằng ăn Bún Bò Huế ở Đà Lạt ngon hơn ở Huế, ăn Mì Quảng ở Đà Lạt ngon hơn ăn ở Đà Nẵng hay ăn Bánh Căn ở Đà Lạt ngon hơn bánh căn ở Phan Rang. Đà Lạt chiều lòng những vị khách đến thưởng thức ẩm thực bằng những bữa ăn nửa chung nửa riêng, bạn nhận thấy một món ăn quen nhưng bạn không thể nếm lại dư vị của nó ở đâu khác, đó là điều khác biệt. Bởi Đà Lạt là một thành phố của ẩm thực.




Và cuối cùng, luôn có một Đà Lạt khác, một thành phố hoa. Ai cũng yêu hoa, mà đã yêu hoa chắc hẳn phải yêu Đà Lạt. Tôi từng ngỡ ngàng đến ngưng thở khi thấy từng hàng hoa Lys quí phái mọc đầy trong sân những ngôi nhà trên phố, hoa Cẩm Tú Cầu nở dọc lối đi ven hồ và người ta trồng hoa Hồng đủ màu sắc trên hàng cây số giải phân cách ở lối vào thành phố. Hoa Đà Lạt đẹp hơn những nơi khác đã đành, thơm hơn những nơi khác đã đành, nhưng tôi thích nhất là cách người Đà Lạt trồng hoa, chơi hoa, luôn có chút gì đó khác biệt, một chút gì như thể từ miền nam nước Pháp còn sót lại từ thời thuộc địa, rất riêng, rất đài các và quyến rũ. Đà Lạt là thành phố hoa, không cần phải đợi đến festival hoa, không cần phải vào vườn hoa thành phố, chỉ cần một lần đến với Đà Lạt, bạn sẽ mê đắm với sắc hoa chốn này.



(Bài đã đăng báo - vui lòng không sao chép)

Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2013

Ai Lao ký sự (4)

...



Phần Cuối: Tạm biệt Mường Lào

Buổi sáng chúng tôi dậy sớm, định là sẽ dành trọn ngày đi chơi Vientiane và buổi tối ra chợ đêm ở bờ sông Mekong mua quà lưu niệm, dĩ nhiên, chúng tôi luôn bắt đầu ngày mới bằng món phở “hữu nghị” Việt Lào và ly café đặc quẹo theo kiểu tự xay, tự pha trước khi khởi hành. 

Chúng tôi bắt đầu bằng địa điểm Khải Hoàn Môn Patuxay của Vientiane, một địa điểm mà hầu như du khách nào cũng đến để chụp ảnh. Đó là một công trình kiến trúc đẹp ở trung tâm thành phố, được xây dựng để tưởng nhớ các liệt sĩ đã hy sinh trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Công trình chỉ là một biểu tượng, nhưng được xây dựng qui mô, mái vòm rất đẹp với rất nhiều họa tiết trang trí tinh xảo, đậm bản sắc của dân tộc Lào. Cả cụm công trình khá lớn với khuôn viên cây xanh, hồ nước bên ngoài và tòa tháp cao bốn mặt để ngắm toàn cảnh thành phố.





từ trên tháp nhìn sang là tòa nhà của chánh phủ

Đài truyền hình Quốc Gia Lào

nhìn xuống đường phố Vientiane


Khải Hoàn Môn trong mắt (kiếng) một nữ du khách

Sau Khải Hoàn Môn, chúng tôi đến chùa That Luang (Thạt Luông), một ngôi chùa với chánh tháp lớn, có hình một cái nậm rượu, bên ngoài dát vàng toàn bộ, rất đẹp, hình như được lấy làm biểu tượng in trên tờ tiền giấy của Lào và nổi tiếng là rất linh thiêng, nơi được cho là chốn đầu tiên lưu giữ xá lợi Phật ở Lào. 



hành lang lưu giữ những hiện vật của ngôi chùa cũ

Ngôi chùa hiện nay được xây lại mới hoàn toàn từ ngôi chùa cổ có từ thế kỷ 15, trên nền một một phế tích Ấn Giáo trước đó nữa. Khuôn viên That Luang rất lớn, nhưng khôn viên Chánh Tháp thì nhỏ, bao quanh bởi hành lang vuông lợp mái ngói với cửa tứ hướng và một bãi cỏ xanh mượt. Phật tử hành hương ở Chánh Tháp thường làm lễ ở cửa chính, sau đó chắp tay đi mấy vòng xung quanh tháp, hình như phải đi 9 vòng thì phải.



Rời khu vực chánh Tháp của That Luang, chúng tôi sang thăm ngôi chùa gần đó, nơi hầu như không có du khách nào ghé thăm nhưng thực ra rất đẹp, ngôi chùa có tượng phật nằm được dát vàng toàn bộ và một chánh điện lớn, có trần cao với rất nhiều những bức vẽ kể về các điển tích Phật Giáo trên trần mái. Tôi vẫn rất thích cách người Lào trang trí những ngôi chùa bằng các bức vẽ này, vừa đẹp vừa tạo ra tính tôn nghiêm cần có.







Chúng tôi khởi hành đi Vườn Tượng Phật (Budaha Park) lúc đã gần trưa. Buddha Park cách Vientiane 25km xuôi hạ nguồn Mekong, mặt trước ra đường lưng tựa vào sông. Nơi đây có hơn 200 bức tượng  lớn nhỏ khác nhau, hầu hết là tượng Phật, nhưng điều kỳ thú là các khu tượng phật này rất lạ, được thiết kế theo từng cụm, có vẻ như đang kể lại những câu chuyện trong truyền thuyết Phật Giáo với rất nhiều linh vật như voi ba đầu, rắn chín đầu, ngựa, khỉ… nếu có thời gian tìm hiểu đầy đủ những câu chuyện thì đây sẽ là một điểm thăm quan cực kỳ hấp dẫn đối với du khách, tiếc là con đường đến đây vẫn đang thi công mù bụi và đầy ổ gà.















Chúng tôi ăn trưa ở Buddha Park và quay trở lại thành phố. Được giới thiệu từ trước, chúng tôi ghé Wat Si Muang, một ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng để được làm lễ chúc phúc và buộc chỉ cổ tay cầu may. Đây là một nét đẹp văn hóa mang tính tâm linh của người Lào. 




Trong lúc chờ đến lượt mình, chúng tôi quan sát một hòn đá thần được đặt ở một vị trí trang trọng trong chánh điện, được cho là sẽ ban cho người cầu xin nó sức mạnh và sự may mắn nếu đọc kinh và nhấc bổng hòn đá lên cao ba lần,chúng tôi đã thử và việc này thực tế là rất khó. Nhà sư làm lễ cho chúng tôi còn rất trẻ, ông vẩy nước thánh bằng một nhành hoa huệ lên đầu chúng tôi, đọc những lời chúc phúc và buộc vào tay chúng tôi một đoạn chỉ nhỏ, màu trắng. Từ đó chúng tôi tin rằng mình đã được Trời Phật và các vị thần bảo trợ, với nhiều sức khỏe và hạnh phúc.





Rời Wat Si Muang, chúng tôi ghé chợ Talat Sao, ngôi chợ sầm uất nhất Vientiane, ở đây có nhiều người Việt buôn bán, chủ yếu hàng có xuất xứ Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc… cũng có nhiều hàng thủ công mỹ nghệ và lưu niệm của Lào, nhưng nghe nói nhiều thứ cũng được nhập về từ Trung Quốc. Hàng hóa nhiều, giá cả chấp nhận được nếu chịu khó trả giá, đặc biệt là ở đây buôn bán vui vẻ, không có nạn chèo kéo, cứ thoải mái lựa chọn, trả giá, thuận mua vừa bán.

Không mua gì ở Talat Sao vì chúng tôi định buổi tối sẽ đi chợ đêm sau khi dùng cơm chiều với vợ chồng anh Thắng, một nhà báo, đại diện của báo Nhân Dân ở Vientiane. Anh Thắng là người Sài Gòn, không sanh ra nhưng đã sống 58 năm ở Sài Gòn nên anh cũng rất yêu Sài Gòn, và dĩ nhiên, là rất thích cuốn “chuyện nhỏ Sài Gòn” của tôi, đó là lý do hai vợ chồng nhất định mời chúng tôi một bữa cơm, vừa để nghe chuyện Sài Gòn vừa để kể chuyện Lào cho chúng tôi nghe.





Thật là một buổi tối rất vui và đáng nhớ, vợ chồng anh Thắng đãi chúng tôi nhiều món ăn Lào ngon, ngon miệng và ngon mắt. Buổi tối còn có sự tham gia của Nam, một bạn kỹ sư của Vietel từ Việt Nam sang làm việc ở đây và sau đó có anh Khánh, đại diện của VOV. Chúng tôi nói về đất nước Lào xinh đẹp, kể những câu chuyện về người Lào dễ thương, anh Khánh hát rất nhiều bài hát Lào. Bữa tối vui quá, chúng tôi uống rượu đến tận 11h đêm mà quên mất là mình cần phải đi chợ đêm, vả lại, ở Lào, sau 7h tối rất khó để kiếm một chiếc taxi hay Tuk Tuk, đành lỡ hẹn với chợ đêm Vientiane.

Buổi sáng hôm sau chúng tôi không có nhiều thời gian nữa, lang thang Talat Sao mà chẳng mua được gì nên chúng tôi ra thẳng sân bay Wattay, lúc này tôi mới nhận ra là sân bay Wattay tuy nhỏ nhưng thiết kế rất đẹp, rất đặc trưng của Lào với các chóp mái cong vút. 

Tạm biệt Vientiane. Tạm biệt Mường Lào.





“Saibaidee” đơ, tạm biệt Mường Lào, một chốn thật đặc biệt, một đất nước thật xinh đẹp thanh bình với những người dân hồn hậu và hiếu khách, tạm biệt những người bạn mới quen nhưng như đã từng thân thiết, tạm biệt những ngọn đèo ngút ngàn mây trắng phủ... tôi luôn tin rằng mình sẽ quay lại đây, sớm thôi.

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

Ai Lao ký sự (3)


...

Phần 3: Người Lào

Người Lào tự chia mình thành ba nhóm người Lào Lùm, Lào Sủng và Lào Thưng, là tôi nghe anh Khăm Sẻn nói thế, nhưng phân chia đó không hoàn toàn mang tính sắc tộc, mà mang tính địa lý và lịch sử nhiều hơn. Chiếm chủ yếu là người Lào Lùm, tức người Lào ở đồng bằng, còn người Lào Sủng ở miền núi phía bắc, người Lào Thưng thì chủ yếu ở phía Nam Lào. Chia coi đơn giản vậy nhưng người Lào cũng đa sắc tộc, chủ yếu người gốc Thái, gốc Kh’mer, gốc Việt, Người H’Mông, người Miến Điện… đó là lý do ti vi ta vẫn gọi là “anh em các bộ tộc Lào”.

tôi đoán bà cụ này gốc Việt, 
Một người khác, bà chủ cái nhà khách chúng tôi trọ ở Luang Prabang, cũng là người Việt và nói tiếng Việt khá tốt, tuy bà sinh ở Lào và đã sống 80 năm cuộc đời ở Lào

Buổi sáng hôm sau thì chúng tôi không thuê xe đạp nữa, mà đi bộ loanh quanh thành phố, chủ yếu chúng tôi muốn đi chùa, vì ở Luang Prabang toàn chùa đẹp. Chúng tôi đi dọc phố Xatikhoumman và thăm các chùa: Xieng Muane, Nong Sikhounmuang II và cuối đường là chùa Xieng Thong rất nổi tiếng, một phần vì chùa rất lớn, và nằm ngay bến sông, đoạn giao nhau giữa sông Mekong và sông Nam Khan, một phần vì nghe nói chùa này rất ling thiêng.








Chùa ở Luang Prabang đa số có khuôn viên rộng, được làm bằng gỗ với thiết kế ba mái cong vút lên trời, các chi tiết kiến trúc trang trí rất tinh xảo, hầu hết đều mạ vàng. Vãn cảnh chùa có thể tự do vào chánh điện cầu xin bình an hoặc đi loanh quanh quan sát các sinh hoạt thường nhật của các sư thầy. Người Lào rất sùng đạo nên các ngôi chùa luôn là những chốn tôn nghiêm nhất, như ngôi nhà chung của mọi người. Bên trong các ngôi chùa thường được trang trí bằng rất nhiều tranh vẽ, tranh khắc gỗ hoặc mạ vàng, nội dung các tranh vẽ này kể về những điển tích Phật Giáo hoặc những câu chuyện truyền thuyết, nói chung rất lạ lẫm, nếu ai quan tâm tới lịch sử Phật Giáo thì những ngôi chùa có lẽ sẽ cực kỳ hấp dẫn.












Chúng tôi dành thời gian nhiều ở chùa Xieng Thong, vì thực sự ngôi chùa quá đẹp, đẹp hơn chúng tôi từng nghe nói. Có rất nhiều du khách vãn cảnh chùa Xieng Thong để cầu an, rất đông sư thầy vẫn làm việc trong khuôn viên nhà chùa nhưng không gian Xieng Thong lúc nào cũng yên ắng, tĩnh mịch. Lúc chúng tôi chuẩn bị rời khỏi Xieng Thong thì có một đoàn khách du lịch Việt đi vào, và ngôi chùa trở nên náo loạn như một cái chợ, họ gọi nhau ý ới, họ chạy lăng xăng đùa giỡn, họ leo khắp nơi để chụp ảnh, bố mẹ quát mắng con cái, còn những phụ nữ thì cười như Liên Xô được mùa. Tôi buồn lắm.

Chúng tôi rời khỏi chùa,  đi một vòng ngắm cảnh và quay trở về khách sạn bằng xe Tuk Tuk, tranh thủ lúc đi dạo, tôi đã huấn luyện sơ cho bạn Hà Thi chụp hình và bạn ấy có vẻ như rất có năng khiếu, đạo diễn một số tấm ảnh khá đẹp với bố cục sáng tạo.



Tôi quyết định sẽ quay về Vang Vien, lúc này tôi phát hiện chiếc xe chúng tôi thuê của anh Khẳm Sẻn bị một tai nạn nhỏ vì va chạm với xe máy đêm qua làm nó rơi mất một chiếc kính hậu và bể khá nhiều chi tiết nhựa phía trước, bên phụ. Chúng tôi quyết định vẫn rời khỏi Luang Prabang lúc gần trưa, với chiếc xe long xòng xọc các chi tiết nhựa bị rớt và thiếu một chiếc kính hậu.

Trên đường từ Luang Prabang đi Vang Vien, như đã nói ở phần đầu, hầu hết là đường đèo núi, nên chúng tôi qua nhiều bản làng của người dân tộc, mà anh Khăm Sẻn gọi là người Lào Sủng hoặc đôi khi là người Mèo, người H’Mông, rất nhiều người trong số họ cũng không hiểu cả tiếng nói của anh Khăm Sẻn, họ có tiếng nói riêng. Người Lào ở khu vực chúng tôi đi qua trông nghèo khổ, như kiểu đồng bào dân tộc thiểu số ở ta, tuy nhiên họ không có biểu hiện buồn bã, trái lại họ rất thân thiện và vui vẻ. Để làm quen, chúng tôi dừng lại  và vào vài bản làng, chơi với trẻ con và người già, do không chuẩn bị quà cho bọn trẻ (đường toàn núi có chỗ nào buôn bán gì đâu) nên hầu hết ở các bản chúng tôi chỉ cho tiền, dù biết là hơi kỳ cục nhưng có lẽ thế còn hơn không.










Ở vùng núi của Lào, mà trên mạn này thì chủ yếu là núi, các bản làng thường sống gần nguồn nước, nhưng có vẻ như cũng không dồi dào, đôi khi chỉ là một khe nước nhỏ chảy ri rỉ từ trong vách đá. Chỗ những nguồn nước luôn là chỗ có đông người nhất, mọi người thường tắm, giặt và lấy nước sinh hoạt ở đó, đôi khi họ phải đi rất xa, băng qua cả mấy ngọn núi mấy cánh rừng mới đến được đây. Chúng tôi đã xin phép được chụp ảnh một số cảnh tắm giặt của các bạn Lào ở những nguồn nước.







Tôi đổi lái cho bạn Thắm lúc xuống đèo Phoukhon để bạn ấy có cơ hội thử lửa ở đất bạn Lào, dĩ nhiên là đối với một tay lái đã từng chinh phục đường Trường Sơn thì đường đèo ở Lào không còn gì là khó đối với bạn Thắm, tuy nhiên đây là lần đầu bạn ấy đi xe số sàn. Anh Khăm Sẻn lúc này mới tỏ ra nể phục bạn Thắm, anh không ngờ chúng tôi có thể lái xe như thế, nhất là trong lúc không có kiếng chiếu hậu và thi thoảng cái vè bánh trước lại rơi xuống đường.



Chúng tôi đến Vang Vien đã tầm 5h chiều. Văng Vien là một thị trấn nhỏ, nằm bên cạnh sông Nam Song. Ở đây dòng Nam Song chảy luồn qua dãy núi đá vôi, tạo nên những hang động nhỏ, nghe nói cũng rất đẹp, như kiểu một Phong Nha thu nhỏ vậy, đây là chốn du lịch rất hấp dẫn đối với du khách nghỉ dưỡng và khám phá đến từ Âu, Mỹ. 




Chúng tôi đi một vòng theo bờ sông, ghé vài cái resort chơi, chụp ảnh, loanh quanh cũng đến 6h, tôi quyết định không dừng ở Vang Vien như dự kiến vì thực tình, phong cảnh chỉ đẹp đủ ở mức nhìn một lần, không có cửa để so với những khung cảnh thiên nhiên ở Việt Nam, so với Phong Nha thì Vang Vien chỉ là một bản sao nhỏ bé và mờ nhạt, tuy nhiên phải công nhận là người Lào làm du lịch quá tốt, có lẽ một phần do bản chất của họ là không tham lam nên những thứ cần gìn giữ của thiên nhiên thì hầu như vẫn còn nguyên sơ, tuy không bằng Phong Nha nhưng về lượng khách du lịch và mức độ thỏa mãn của du khách thì người Lào làm tốt hơn Việt Nam nhiều, rất nhiều.

Quyết định vượt 170km trong đêm để về Vientiane là một quyết định mạo hiểm, anh Khăm Sẻn không ủng hộ mấy, vì ở Lào, sau 7h coi như là khuya rồi, hàng quán sẽ đóng cửa, ai về nhà nấy và sẽ không có bất cứ dịch vụ gì hoạt động sau 7h tối. Nhưng chúng tôi vẫn quyết đi, sau khi đổ thêm ít xăng và mua vài cái bánh ngọt để ăn tối trên xe. Chạy xe đêm ở Lào thật khó vì đường đèo núi nhưng lại không được mở đèn pha, đèn pha chỉ để thi thoảng cần xem đường thôi, anh Khăm Sẻn bảo thế. Chúng tôi về đến Vientiane lúc 9h, vẫn đủ thời gian để check-in khách sạn, dạo một vòng chợ đêm và làm một tô mì vịt quay của người Hoa đề ngồi bàn tính lộ trình của ngày hôm sau.

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...