Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2011

Cặp đôi hoàn hảo 2011: “Lành vé số” và “Tuấn ba gác”


Bài trên báo Pháp Luật:

Gặp những người tử tế quanh lô độc đắc

Người bán vé số “bán thiếu” vé số qua điện thoại. Khi biết người mua trúng số hơn 6 tỉ đồng, người bán vẫn giao hết những tờ vé số đã trúng.

Người bán vé số dạo đặc biệt đó là chị Phạm Thị Lành, còn người mua vé số là anh Đỗ Ngọc Tuấn (ngụ khu phố 2, đường Bà Chánh Thâu, thị trấn Bến Lức, Long An).

Mua thiếu vé số, ai ngờ trúng độc đắc

Chuyện xảy ra ngày 15-11: Sau một ngày bán vé số mà vẫn còn dư một xấp, chị Lành gọi điện thoại cho anh Tuấn, “mối” mua vé số hằng ngày của mình, nài nỉ anh mua giùm. Anh Tuấn đồng ý mua nợ 20 tờ vé số. Đến chiều, khi đang ngồi dò vé số tại quán cà phê Cây Mai, Lành phát hiện xấp vé số anh Tuấn vừa mua thiếu có bốn tờ trúng giải đặc biệt, chín tờ trúng giải an ủi. Run quá, chị cất riêng xấp vé của anh Tuấn vào giỏ rồi nhờ người khác dò giùm cho chắc ăn. Tiếp đó, chị gọi chồng đến đưa về vì sợ trên đường về lỡ có người giật mất thì không biết lấy gì mà đền. Chồng chị Lành đến nơi thì thấy mọi người đã xôn xao nghẹt trong quán. Chị Lành run quá không bấm máy gọi anh Tuấn được nên nhờ chồng bấm giùm. Ở đầu dây bên kia, anh Tuấn nghe giọng chị Lành: “Anh cầm 200.000 đồng tới quán cà phê Cây Mai lấy vé số của anh đi. Mấy tờ anh mua trúng lớn rồi nè”.

Anh Tuấn không tin, nghĩ rằng cô bán vé số đùa. Giao mấy thanh sắt cho khách xong, anh chạy xe ba gác thẳng đến quán Cây Mai. Để chắc ăn, anh bấm điện thoại nhắn tin dò qua tổng đài. Kết quả tin nhắn giải đặc biệt đài Bến Tre vẫn là 191207. Biết chắc mình trúng lớn, tính tổng tiền chưa trừ thuế khoảng 6,9 tỉ đồng, mừng quá, anh Tuấn rút một tờ đặc biệt cho chị Lành.

“Nói thiệt nếu lúc đó cô Lành không trả vé tui cũng không bao giờ biết tui trúng. Tui chỉ nhớ mang máng vé tui mua có số đuôi 07 thôi, chớ không nhớ mấy số đầu” - anh Tuấn nói với mọi người.


Chị Lành và anh Tuấn vẫn chất phác như lúc chưa trúng số. Ảnh: TM

Không tham của trời cho
Chúng tôi hỏi đường đến nhà chị Lành, một người dân nhiệt tình chỉ. Chỉ đường xong, anh này nói: “Con nhỏ đó hoặc là khùng hoặc là có tình ý gì với ông Tuấn, chứ ai dại gì đi giao không mấy tỉ đồng cho người ta”. Tôi chuyển lời nói này thành câu hỏi cho chị Lành, chị trố mắt: “Sao mà nghĩ ác vậy trời! Nói vậy vợ anh Tuấn nghe được thì chết tui. Thứ hổng phải của mình thì lấy làm gì!”.

Nhà chị Lành ở xã Long Khánh A, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp. Lành vừa mua đất xây nhà cho cha mẹ từ tờ vé số anh Tuấn tặng và riêng chị hôm đó cũng có giữ lại cho mình một tờ đặc biệt. Lâu nay, gia đình Lành ở quê sống bằng “nghề” làm mướn, ai kêu gì làm đó. Cuộc sống khó khăn, Lành lên TP.HCM làm công nhân cho một hãng nước chấm. Túc tắc mãi vẫn không để dành được đồng nào, chị về Bến Lức, Long An thuê nhà trọ đi bán vé số từ sáu năm nay. Chị lấy chồng rồi đưa gia đình, họ hàng lên Bến Lức cùng bán vé số. Một ngày, người anh của chị sau khi đi bán về đã ngủ luôn không bao giờ dậy được nữa. Sau khi mai táng anh của Lành xong, cả gia đình lại dắt díu nhau về Đồng Tháp sống tạm. Lành định sau khi mãn tang anh (sau tết Nguyên đán) sẽ đưa cả nhà lên Bến Lức bán vé số trở lại. Nay thì nhờ có hai tờ đặc biệt (khoảng 3 tỉ đồng), Lành mua đất, cất nhà cho cha mẹ và các cháu ở. Số tiền còn lại, chị gửi ngân hàng để cha mẹ lấy tiền lãi hằng tháng lo cho cả nhà. Phần mình, Lành vẫn hằng ngày rời căn nhà trọ thuê với giá 700.000 đồng/tháng để đạp xe đi bán vé số.

“Người ta nói tui đổi xe đạp Martin đi cho đẹp nhưng tui đi chiếc xe đạp cà tàng này quen rồi. Có người còn kêu tui lấy tiền trúng số mở sạp trong chợ bán hàng nhưng tui lỡ thương cái nghề này rồi. Bữa nào đau bệnh nghỉ mấy bữa là có người chờ mình mua số”. Chồng chị Lành cũng cùng suy nghĩ như chị. Anh là người ăn chay trường nên nghĩ đồng tiền là vật ngoài thân. Dẫu đã khấm khá hơn nhưng hằng ngày anh vẫn chạy xe ôm kiếm sống bằng sức lao động của mình.

Anh Tuấn sau khi trúng số vẫn mang đôi dép lê cũ chạy xe ba gác cải tiến chở hàng cho khách, vợ anh vẫn làm công nhân. Chúng tôi thắc mắc sao anh không chuyển nghề, anh cười: “Nghề này gắn bó với tui 15 năm nay rồi, không bỏ được”. Trước đây, anh Tuấn chạy xe ba gác thô sơ. Sau khi có lệnh cấm chạy xe loại này, anh được Nhà nước hỗ trợ 5 triệu đồng và dồn tiền mua chiếc xe cải tiến để tiếp tục hành nghề. Sau khi trúng số, anh mua cho vợ và mẹ một ít nữ trang, để dành một khoản xây lại căn nhà và thuê xe du lịch đưa bà con trong xóm đi chùa ở Cà Mau, Phan Thiết. Số còn lại anh gửi hết vào ngân hàng. Anh giải thích: “Cái đó là của để dành cho con cái sau này, không được đụng vào. Tiền lãi tháng rồi tôi cũng không đi lấy luôn. Tôi coi như mình chưa từng có nó và không nghĩ tới nó nữa”.

Chúng tôi hỏi lý do sao không sắm sửa gì cho riêng mình, anh Tuấn đáp gọn rằng mình biết đủ là đủ. Anh từng chứng kiến rất nhiều cảnh người dân Bến Lức trúng số độc đắc rồi sa cơ cũng từ đó. Có người trúng số rồi mua đất, cất nhà, bao bồ bịch, cờ bạc, rượu chè…, cuối cùng cũng hết sạch. Cho nên anh coi đó là bài học cho bản thân và tự răn: “Tui năm nay mới 41 tuổi, còn sức lao động thì cứ sống bằng chính sức lao động của mình đi đã”.

THANH MẬN





Bài trên báo Thanh Niên:

Sự lương thiện bình thản

Chuyện chị “Lành vé số” trao đủ 20 tờ vé số trúng thưởng tới 6,6 tỉ đồng cho “người mua vé số chịu” nhưng đúng chủ nhân thật của 20 tờ vé số là anh “Tuấn ba gác”, đã khép lại năm Tân Mão 2011 bằng một “truyện cổ tích giữa đời thường” đẹp và có hậu vô cùng.

Anh “Tuấn ba gác” cũng có một nghĩa cử rất đẹp là tặng lại cho chị “Lành vé số” một chiếc vé trúng thưởng đặc biệt, cộng với một vé số trúng thưởng khác của riêng chị Lành, đã mang lại cho chị số tiền gần 3 tỉ đồng.

Thật khó có một câu chuyện cổ tích nào lại dàn được một cái kết có hậu quá sức tưởng tượng như thế. Hai người nghèo nhưng đều là tỉ phú về sự lương thiện đã được số phận đền đáp. Nhưng điều khiến tôi nghĩ sâu hơn, là nếu không trúng số như thế, chị Lành và anh Tuấn vẫn là những người lương thiện. Mà sự lương thiện thì không nên đo bằng tiền, dù là tiền tỉ. Nhưng rồi khi phải đứng trước một thử thách để kiểm chứng độ lương thiện của mình, họ đã vượt qua một cách nhẹ nhàng và đẹp đẽ.

Ai cũng cần tiền, người nghèo càng cần tiền hơn gấp bội. Nhưng với chị Lành, có một cái còn quý hơn tiền, đó là sự lương thiện. Có một cái còn quý hơn tiền, đó là sự trung thực và tín nghĩa. Nếu dùng luật để tính, thì chị Lành vẫn có quyền không giao 20 tờ vé sổ trúng thưởng cho anh Tuấn, vì trong thực tế “giao dịch chưa hoàn thành”, anh Tuấn vẫn chưa trả tiền 20 tờ vé số đó. Nhưng, ở đời vẫn có chữ “nhưng”, chị Lành đã không “làm luật” như vậy! Chị đã từng nhiều lần bán vé số thiếu nợ cho anh Tuấn, dù trúng dù trật anh Tuấn vẫn trả đủ tiền mua vé cho chị. Không lẽ lần này… “Mấy tờ vé số này anh Tuấn chưa trả tiền, trúng hay trật cũng là của ảnh, tôi mà không trả thì thiên hạ coi tôi ra gì nữa!”. Người nghèo lương thiện chỉ nghĩ và hành xử đơn giản như vậy thôi, nhưng đó là sự đơn giản sau khi “đã đi qua những đỉnh cao” của phẩm chất người. Sống lương thiện, có thể được hoặc không được đền đáp bằng những tờ vé số trúng độc đắc, nhưng bản thân sự lương thiện đã là một phần thưởng vô cùng cao quý rồi.

Cách đây gần một tuần, Báo Thanh Niên đã đưa một câu chuyện “phản cổ tích”: Một giám đốc bị nhân viên tố chiếm đoạt vé số trúng thưởng. Tôi đề nghị Báo Thanh Niên, nếu có điều kiện, thì đăng lại chuyện Người bán vé số “chê” 6,6 tỉ đồng song song với chuyện Một giám đốc bị nhân viên tố chiếm đoạt vé số trúng để mọi người có dịp đọc cả hai câu chuyện và tự rút ra kết luận cho mình.

Ngay trong “lĩnh vực vé số” ấy thôi, vẫn cùng tồn tại một chuyện rất đẹp và một chuyện rất tồi, đúng như tính muôn mặt lưỡng đối của cuộc đời. Tôi biết, những người làm trong ngành khí tượng thủy văn (như “giám đốc” và “nhân viên” trong câu chuyện “phản cổ tích”) thường là nghèo. Nhưng không phải vì thế mà “sếp” lại nỡ chiếm đoạt vé số trúng thưởng của “lính”. Chuyện này đúng sai tới đâu sẽ do pháp luật định đoạt, nhưng nghe kỳ quá! Chị Lành và anh Tuấn còn nghèo hơn nhiều, nhưng họ đâu có hành xử như vậy.

Họ lương thiện một cách bình thản, và khi đột nhiên thành “tỉ phú”, họ vẫn bình thản là những người lao động lương thiện.


Thanh Thảo

Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2011

linh tinh vào Giáng Sinh

...

1.
Tinh thần sát thủ đầu mưng mủ đang ngùn ngụt trong dân chúng, điển hình là cái tựa bài này

2.
Tôi lại lỡ chuyến chu du đường 14 lần nữa, chẳng vì lý do gì cụ thể, chỉ là tôi không thể xa con mình được, mà đem nó đi theo thì chưa tiện. Tôi đành hẹn sang năm.

3.
Có lần tôi định viết một cái note thế này:
- Năm 18 tuổi tôi đi dọc Việt Nam, tôi mơ ước được có mọi thứ
- Năm 38 tuổi tôi hầu như có mọi thứ, tôi mơ ước được đi dọc Việt Nam

4.
Tôi làm cái clip này năm ngoái, năm nay làm lại cái mới thấy không đẹp bằng nên thôi, cứ post lại cái clip năm ngoái để mọi người thư giãn. Chúc mừng Giáng Sinh.



 5.
Tặng thêm cái note mới trên FB, đọc vui thôi, đừng nghĩ xa xôi


CHUYỆN ẤY

...

Mình dĩ nhiên là mê làm “chuyện ấy” rồi. Hồi còn trẻ, còn hăng thì hầu như mình làm “chuyện ấy” mỗi ngày. Mệt lắm, biết là hại sức lắm nhưng mà cái sướng khi làm “chuyện ấy” nó không thể cưỡng được. Mình có thể làm “chuyện ấy” ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào và với bất kỳ ai thích làm “chuyện ấy” với mình. Hồi trẻ  bọn mình làm “chuyện ấy” rất hăng và cực kỳ sáng tạo, làm “chuyện ấy” bằng đủ thứ kiểu.  Làm “chuyện ấy” thì sướng, và còn vui nữa nhưng lúc xong thì mệt thật, mệt đến tứ chi bủn rủn, nhưng không hiểu sao chỉ vừa phục hồi sức chút xíu là mình lại muốn làm “chuyện ấy” nữa.

Bây giờ có tuổi rồi, sức cũng yếu nên mình làm “chuyện ấy” chọn lọc và điều độ hơn, tuần chỉ 1 hoặc quá lắm là 2 lần. Dĩ nhiên là làm “chuyện ấy” thưa ra thì sự chuẩn bị cũng mang nhiều hồi hộp hơn, cái sướng mỗi lần làm “chuyện ấy” nó mãnh liệt và kéo dài hơn, và kèm theo đó là sự mệt sau khi làm “chuyện ấy” cũng nhiều hơn.

Mình hiếm khi làm “chuyện ấy” một mình, nói thật thì cũng có đôi lần mình làm “chuyện ấy” một mình nhưng chỉ là lúc cô đơn và chịu không thể tìm ra đối tác cùng làm “chuyện ấy” với mình, làm “chuyện ấy” một mình thì chán lắm và cái sướng nó cũng giả tạo lắm. Bây giờ đa phần là mình làm chuyện ấy với 1 hoặc 2 đối tác quen thuộc, có cùng cảm hứng và cũng làm “chuyện ấy” với một kiểu cổ điển chứ không sáng tạo nhiều, chủ yếu thiên về chất chứ không thiên về lượng nữa.



Thấy báo chí, nhất là báo mạng, dạo này hay lạm bàn chữ “chuyện ấy”, nên mình cũng đem “chuyện ấy” ra nói, “chuyện ấy” của mình đơn giản chỉ là chuyện ... NHẬU.

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2011

Cắt Tóc Ăn Tết

...

Thi đàn miền nam hẳn chưa quên tên tuổi Nguyên Sa, một bút danh sầu đời và chung tình, một trong số ít, rất ít, những người làm thơ lãng mạn nhất thế kỷ 20 ở Việt Nam. Kiểu thơ, hay nói cho nó tây là style làm thơ của Nguyên Sa là loại cực độc, loại cực hiếm, trước giờ chưa có và sau này chắc cũng không có. Tạm kể mấy bài đã thành bất hủ qua các nhạc phẩm của Ngô Thụy Miên như: Áo lụa Hà Đông, Tuổi mười ba, Paris có gì lạ không em, Tháng sáu trời mưa… đủ thấy thơ Nguyên Sa công lực thế nào.

Lúc mới lớn, nói thật là tôi luôn bị chứng rùng mình và nổi da gà, cảm giác như bị điện giật mỗi khi đọc một câu thơ hay, một câu kiểu như: “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm / Như con mèo ngái ngủ trên tay anh”. Tôi không bao giờ dám đọc hết tập thơ Nguyên Sa, vì tôi sợ cứ nổi da gà và rùng mình liên tục sẽ không tốt cho sức khỏe. 

Lúc đã trưởng thành, khi internet đã trở nên phổ dụng, tôi mới biết là ngoài thơ tình, Nguyên Sa còn rất nhiều bài thơ khác, làm cho chứng bị điện giật khi đọc thơ của tôi trở nên trầm trọng, tôi gần như bị cảm giác điện giật suốt nhiều ngày sau khi đọc thơ ông. Sau đầy là một bài, trong số những bài như thế




Cắt Tóc Ăn Tết

Cắt cho ta, hãy cắt cho ta
Cắt cho ta sợi dài
Cắt cho ta sợi ngắn
Cắt cái sợi ăn gian
Cắt cái sợi nói dối
Sợi ăn cắp trên đầu
Sợi vu oan dưới gáy
Sợi bè phái đâm ngang
Sợi ghen tuông đứng dọc
Sợi xích chiến xa, sợi dây thòng lọng
Sợi hưu chiến mỏng manh, sợi hận thù buộc chặt
Sợi nấp trong hầm
Sợi ngồi trong hố
Sợi đau xót như dây dù chẳng mở
Sợi treo cổ tình yêu, sợi trói tay hy vọng
Cắt cho ta.
Cắt cho ta, hãy cắt cho ta
Sợi Hà Nội khóc trong mưa
Sợi Sài Gòn buồn trong nắng
Sợi dạy học chán phè
Sợi làm thơ thiểu não
Sợi đặc như dùi cui
Sợi rỗng như khẩu hiệu
Sợi nhọn như lưỡi lê
Sợi cứng như dây thép gai
Sợi dầy như hỏa lực
Cắt cho ta.
Sợi mệt mỏi sau những tháng ngày hoan hô đả đảo
Sợi cháy đen như rừng núi Chu-prong
Sợi thở dài trong đêm cúp điện tối om
Sợi sát vào nhau đánh sáp lá cà
Sợi cắt non sông thành Bắc Nam, thành khu chiến
Sợi lên thẳng trực thăng
Sợi xuống ngầm địa hạ
Sợi đặt chông
Sợi gài mìn
Sợi bóp cò liên thanh
Sợi kéo xe đại bác
Sợi xót xa trên mặt nhăn tuổi trẻ
Sợi trên trán thơ ngây nằm im phục kích
Cắt cho ta.
Cắt cho ta, hãy cắt cho ta
Sợi bạc, sợi vàng, sợi tiền, sợi gạo
Sợi nhục, sợi lo, sợi đau, sợi chán
Sợi phản trắc đui mù, sợi đam mê cuồng vọng
Sợi chảy xuống má cha
Sợi vắt ngang trán mẹ
Sợi cắt đứt tim chồng
Sợi chặt đôi ruột vợ
Sợi nhố nhăng như cuộc đời
Sợi ngu si như lịch sử
Sợi đợi những ngón tay đi qua
Sợi đợi những ngón tay chẳng đến
Cắt cho ta.
Hãy cắt cho ta
Hãy cắt cho ta
Hãy cắt cho anh
Hãy cắt cho em
Hãy cắt cho vợ
Hãy cắt cho chồng
Hãy cắt cho con
Cho buổi tối quạnh hiu, cho mối tình sắp cũ
Cho đồng bào, cho người thân, người sơ
Cho ruột thịt
Cho cả những thằng sa đích phê bình văn nghệ rẻ tiền
Cho cả những thằng xẻo thịt non sông
Cho cả những thằng băm vằm tổ quốc
Cho chính bản thân ta bơi trong tội lỗi
Hãy cắt tóc
Hãy cắt tóc và nhìn
Mặt quê hương đổi mới
                    (Nguyên Sa)

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2011

"xin chào nhau giữa con đường"

...

Thực ra tôi có nhiều chuyện để viết, nhưng chuyện gì loanh quanh cũng dính ít nhiều đến thế sự, mà cái thế sự bây giờ thì các bạn biết rồi đấy, tôi cũng không muốn viết nữa. Bất chợt nhớ Bùi Giáng, sắp đến "sanh nhựt" của Bùi Giáng.

Hồi mới vào Sài Gòn, năm 92, tôi ở đậu nhà bà chị họ, trên đường Hoàng Diệu quận Phú Nhuận, đối diện chỗ tôi ở là một căn biệt thự kín cổng cao tường, nghe nói là của Nữ Sĩ Kim Cương. Tôi ở đó độ 2 tháng, cũng đôi lần thấy Bùi Giáng nhưng lúc ấy không biết ông, chỉ tưởng ông điên nào đó thôi. Nếu lúc ấy biết Bùi Giáng, có lẽ đã cùng ông say sưa một bữa, biết đâu giờ tôi được khai sáng hơn.

Hôm nay ngồi đọc lại toàn bộ Bùi Giáng - Thơ và Đời, nhớ Bùi Giáng.

Cảm động nhất là tình sử Bùi Giáng - Kim Cương. Tôi trích câu này của Kim Cương khi tiễn Bùi Giáng về trời: "Thưa Bùi Giáng! Đời ông là một đời giang hồ, nhưng mọi người vẫn mến thương ông, chắc ông cũng mãn nguyện rồi. Riêng tôi có 3 điều cảm ơn ông. Thứ nhất, ông đã để lại một sự nghiệp thơ cho đời. Thứ hai, cảm ơn mối tình 40 năm ông dành tặng tôi, tới giờ tôi có thể nói đó là mối tình lớn, ông là người yêu tôi chung thủy nhất, lâu dài nhất. Thứ ba, cảm ơn vì ông đã cho tôi một bài học, rằng dù điên hay tỉnh, giàu hay nghèo, già hay trẻ, trong lòng mỗi người cũng phải có một mối tình để sống".

Gửi bạn yêu thơ bài này:


Chào Nguyên Xuân

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau
Tóc xanh dù có phai màu
Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng.

Xin chào nhau giữa lúc này
Có ngàn năm đứng ngó cây cối và
Có trời mây xuống lân la
Bên bờ nước có bóng ta bên người

Xin chào nhau giữa bàn tay
Có năm ngón nhỏ phơi bày bóng con
Thưa rằng những ngón thon thon
Chào nhau một bận sẽ còn nhớ nhau

Xin chào nhau giữa làn môi
Có hồng tàn lệ khóc đời chửa cam
Thưa rằng bạc mệnh xin cam
Giờ vui bất tuyệt xin làm cỏ cây

Xin chào nhau giữa bụi đầy
Nhìn xa có bóng áng mây nghiêng đầu
Hỏi rằng: người ở quê đâu?
Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà

Hỏi rằng: từ bước chân ra
Vì sao thấy gió đàn xa dặm dài?
Thưa rằng: nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào

Hỏi rằng: đất trích chiêm bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau
Thưa rằng: ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân.

(BG- Mưa Nguồn)



...

Còn mấy câu này gửi bạn yêu giang hồ

thơ chép trong sổ nợ quán rượu

“Nợ thêm nợ nữa bây giờ
Một ngàn bất tận bất ngờ tương lai”.

“Đợt nhì: Lại thêm hai hột ba ngàn
Trăm năm sau nữa nghìn vàng tương lai.

Đợt tam: Đợt tam muôn một một lần
Một nghìn vô tận tử phần tình thương.

Đợt tứ: Bình minh rượu đế một ngàn
Còn thêm gói bánh một ngàn là hai.

Đợt năm: Chịu chơi vô tận bao dong
Ba gói kem sữa thong dong ba ngàn.

Đợt sáu (Sáu Giáng): Nợ này có một không hai
Có hai không một đeo dai thượng thừa
Ông ngồi uống rượu đong đưa
Đong đầy đổ ụp móc mưa giậy thừa.

Đợt bảy: Bất ngờ ngẫu nhĩ nhận ra
Một ngàn hụt hẫng từ ta nợ người.

Đợt tám: Chín mươi chín tuổi ở đời
Ở điên uống loạn ăn rồi nói lông bông”,

“Tối hậu: Hai bịch trời ơi
Hai ngàn cả thảy
Thiên thâu tử hình”


“Tái tối hậu: Một nghìn cả thảy hôm nay
Mai sau sẽ nợ mai này sẽ tính sau”

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

“có lũ kỷ niệm trước sau”

...

1.
Hồi mới ra trường tôi đi làm cho một hãng bán xe máy Đài Loan. Hãng của tôi là hãng đầu tiên, mà cũng có thể là duy nhứt, bán xe máy trả góp cho người có thu nhập thấp, bán trực tiếp với lãi suất thấp chứ không phải bán qua ngân hàng với lãi suất ngất ngưỡng đâu. Công ty có hẳn một phòng công nợ với hơn chục nhân sự, chuyên đi đòi tiền góp hoặc đi thu hồi xe của những khách hàng không còn khả năng chi trả.

Tôi được điều động về làm kế toán trưởng chi nhánh của công ty ở Cần Thơ, lúc làm ở đây tôi phải kiêm luôn việc quản lý công nợ trả góp. Lúc ấy chúng tôi có một khách hàng, là một nông dân tên Mận, anh Mận đã nợ tiền trả góp 3 tháng rồi, tổng cộng là gần 180 đô, theo luật thì anh sẽ bị thu hồi xe.

Một ngày cuối tháng 11 năm 1996, tôi và một bạn nhân viên kinh doanh tìm về xã Thạnh Thắng gặp anh để đòi nợ và thông báo việc thu hồi xe. Tìm mãi đến trưa mới ra nhà anh Mận, đó là một căn chòi thì đúng hơn, mái tôn vách lá, nằm chơ vơ giữa đồng.

Thạnh Thắng nổi tiếng với món thịt chó, thịt chó kiểu bắc đúng điệu luôn. Bữa ấy Tư Mận đãi chúng tôi ăn một bữa thịt chó thịnh soạn, lấy lý do là ngồi chờ để vợ anh đi mượn tiền. Thịt chó ở quê nhưng cũng đủ món: mận, xáo măng, giò nướng, dồi nướng… nhưng đặc biệt mắm tôm anh nầy làm ưng ý tôi quá, mắm tôm tươi dằn thêm muỗng đường rồi cho thật nhiều ớt hiểm, sả cây, gừng lát đã băm nhuyễn, vắt vô một trái chanh lớn và dùng đũa đánh cho lên bông. Bữa ấy không có lá mơ, chỉ có rau thơm, húng quế, ngò gai… ngò gai ở đây lá to, bằng ba ngón tay, chấm vô nắm tôm nhai dòn rau ráu.

Rượu thịt, tâm sự một hồi thì thương anh quá. Ông già anh thuộc loại mê thịt chó, đặt tên con toàn món thịt thó: Mận, Dồi, Măng, Xáo… nhà nghèo, phải nói cái xe máy mua của chúng tôi là tài sản lớn nhất, à không, có lẽ là duy nhất của vợ chồng anh, anh dùng nó để chạy xe ôm. Nghèo nhưng mà nói chuyện tình nghĩa lắm, chỉ năn nỉ thư thả cho ít bữa, đừng lấy cái xe về.

Bữa ấy vợ anh đi đến tối cũng không mượn được tiền trả chúng tôi, tôi nói, thôi lỡ uống rượu của anh rồi tôi cho anh mượn tiền, tôi còn nguyên tháng lương mới lãnh cộng cả phụ cấp đúng hơn một triệu tám, cũng vừa cỡ 180 đô. Tôi hứa đóng tiền cho anh, vài bữa có tiền đem lên trả tôi, vợ chồng anh mừng lắm, muốn khóc luôn.

Lúc ra về xảy ra chuyện, hình như tôi có kể ở một bài nào đó, anh bạn nhân viên kinh doanh chạy ẩu, làm chúng tôi té sóng soài. tôi bị té lăn vào một con mương khô và nằm ngủ luôn tại chỗ, còn anh bạn lái xe thì dựng xe dậy, bỏ quên tôi và chạy một mạch về Cần Thơ. Sáng hôm sau tôi thức dậy, mình mẩy lem luốc, đón xe lôi về văn phòng, gặp anh bạn kia chưa kịp mắng cho một câu thì anh ta đã hỏi xớn xác: hôm qua đang nhậu sao tự nhiên anh bỏ đi đâu vậy, làm em chạy xe về một mình.


2.
Thực ra hồi ấy tôi không thân, nói đúng hơn là không quen ai ở ĐH Luật. Sau khi được giải thơ Bút Mới, tôi mới biết đến ĐH Luật, lúc ấy mới quen Minh Trường. Minh Trường dân Bến Tre, làm thơ hiền lắm, êm lắm, miền tây lắm. Ai cũng mến Minh Trường, thương những câu như: “cá lòng tong rỉa bóng những con tàu”.

Một đêm mưa gió lạnh lẽo, sau khi làm một cữ rượu ở quận 5, chúng tôi bỗng nảy ra ý định qua ĐH Luật thăm Minh Trường, vậy là mấy thằng lội bộ băng đi trong mưa. Đi bộ đường xa mỏi chân ướt áo, chúng tôi ghé vào một quán rượu ven đường, là một quán xập xệ bán cháo vịt, chúng tôi gọi một tô cháo và một lít rượu, cháo cũng xây tua, ăn muỗng cháo uống ly rượu. Mưa mãi không dứt nên sau khi hết cháo và rượu, chúng tôi lại đi bộ băng qua Bình Triệu.

Đêm ấy, uống rượu ở quán gần nhà thờ Fatima, đi bất chợt mà vô tình gặp nhiều người, đêm ấy ngoài Minh Trường hình như có cả Quốc Sinh, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Đức Hiển và Thanh Hà… rất vui. Uống ở quán chán thì kéo nhau vào trường Luật. Phía tay phải trường có một tòa nhà, phía trên hình như là một cái giảng đường, đêm tối giảng đường vắng chỉ có mấy cặp nam nữ sinh viên ngồi ôm nhau. Phía dưới giảng đường có một bàn bóng bàn với mấy nam sinh Luật đang chơi, Nhựt ghé vào chơi chung. Nhựt chơi bóng bàn rất hay, đêm ấy Nhựt thách đấu với một bạn trường Luật bằng cách chỉ đánh bóng bàn bằng một chiếc dép lào.

Chúng tôi chơi loanh quanh, đợi đến quá nửa đêm, khi các đôi nam nữ ôm nhau bỏ về ngủ thì bày rượu ra uống. Tuy nhiên vẫn còn một hai cặp tiếp tục quấn lấy nhau, mặc cho lũ chúng tôi ngồi ngay đó, đương uống rượu, gần như lên đồng với việc đọc thơ và nói về chủ nghĩa hiện sinh.

Uống tới 4h sáng thì leo rào trường Luật, băng qua chợ Bình Triệu, trong chợ có bà bán bún bò gánh, bán rất sớm, lúc trời còn tối đen và mờ sương, tô bún nóng và ngon rất đỗi. Ăn xong tô bún thì kéo nhau về phòng Minh Trường ngủ. Phòng ở KTX trường Luật rất lạ, phòng ngủ của sinh viên kế ngay bên giảng đường, nằm ngủ có thể nghe trọn bài giảng của giáo sư.

Trưa hôm sau lại ra quán bờ sông rượu tiếp, ngẫu hứng chúng tôi còn cởi đồ nhảy xuống sông bơi. Tôi không nhớ lắm, nhưng hình như lúc về chúng tôi có gặp Bùi Giáng thi sĩ, đi lang thang với một giò Phong Lan đeo lủng lẳng ở cổ.


Các bạn năm xưa ấy bây giờ đều theo nghề viết lách, đều có tên có tuổi trên giang hồ cả, chỉ có tôi và Nhựt rẽ lối khác, tôi thì theo đời cơm áo, bỏ lại chữ nghĩa dọc đường, chỉ còn mấy kỷ niệm, ngồi nhớ lúc thèm rượu, thèm gió.


LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...