Thứ Ba, 28 tháng 6, 2011

"đẹp như bông lúa chín con sông phù sa thơm phức..."



1.
Có một cô nhân viên của tôi thường ngày vẫn thấy tôi hay kể chuyện miền tây nên cô quyết định cùng chồng đi miền tây chơi. Sau khi đi một vòng miền tây, xuống đến tận mũi Cà Mau, cô quay trở về và phát biều rằng “miền tây chẳng có gì hay để xem, để chơi cả”. Tôi hoàn toàn đồng ý. Tôi đã từng đi khắp miền tây, ở miền tây không có gì đáng để xem đâu, không có những đền đài thành quách, không có những bờ biển dài cát trắng dừa xanh, không có núi non hùng vĩ, không có những dòng thác thơ mộng, thậm chí cũng không có lấy một cái resort cho ra hồn… không có gì đáng cho một chuyến du lịch cả. Chắc chắn luôn

2.
Nhà Ngoại vợ tôi ở giữa miền tây, Hậu Giang. Ngoại có bốn người con gái và hai người con trai, trong bốn người con gái của bà Ngoại thì má vợ tôi lớn nhất, thứ Ba, còn lại là Dì Tư, Dì Bảy và Dì Út. Cả bốn người con gái này đều rất đẹp (tôi coi hình hồi trẻ của họ mà không khỏi mê mẩn).

3.
Dì Tư tôi có thể nói là đẹp nhất trong bốn người, nét đẹp của Dì rất quí phái. Dì Tư sanh được năm người con gái, sanh cũng gần nhau. Sanh xong năm người con gái thì Dượng Tư tôi mất, để lại một mình Dì với năm cô con gái nhỏ. Vì lúc ấy Dì đẹp quá (sanh năm con mà vẫn còn đẹp mới hay) nên cũng có nhiều người đàn ông giàu có đến xin phụ nuôi con với dì, nhưng Dì Tư nói: không. Một mình Dì ở vậy nuôi năm người con. Vượt qua bao nhiêu khổ cực, đắng cay, loạn lạc, binh đao… Dì Tư vẫn một tay nuôi các con nên người, không những vậy Dì Tư còn phụ giúp Ngoại nuôi các em.

Các con Dì Tư bây giờ đều khá giả, ở nhà lầu đi xe hơi nếu bạn muốn nói rõ hơn. Hôm Tết vừa rồi các con gái và con rể của Dì Tư làm một lễ mừng thọ cho Dì ở Trường Long, đó là một buổi lễ lớn được dựng rạp trong vườn với múa lân và cả một chương trình ca nhạc. Vợ chồng chúng tôi, cùng với một đại gia đình, cũng đến dự và chúc mừng Dì. Tóc Dì đã bạc, chân Dì bị đau nên đi lại khó khăn. Dì vẫn luôn mỉm cười. Tôi vẫn phải nhắc lại là đến tận tuổi già, Dì Tư tôi vẫn đẹp mê hồn.

4.
Dì Bảy cũng đẹp, đẹp một kiểu khác nữa, có thể vì Dì là một cô giáo. Dì Bảy có ba người con, hai trai một gái. Đúng lúc Dì Bảy tôi sắp sanh đứa út, thằng Khoa, thì nhà Dì có chuyện. Số là Dượng Bảy tôi lúc ấy đi làm bảo vệ, mà bảo vệ thời mới giải phóng được coi là bán vũ trang và cũng được cấp súng quân dụng. Trong một lần làm nhiệm vụ, Dượng Bảy tôi đã vô tình để súng cướp cò và làm chết một người.

Đó là một cái án dài đằng đẵng. Dì Bảy một mình nuôi ba đứa con trong lúc Dượng Bảy thụ án, tất nhiên là có sự trợ giúp của má vợ tôi và Dì Tư. Nhưng đó là một thời gian cực kỳ khó khăn mà mỗi lần nhắc lại thì má vợ tôi và Dì Bảy vẫn không khỏi chua xót.

Bây giờ thì Dì Dượng rất vui, Dượng Bảy làm lúa ở Nông trường Cờ Đỏ thôi mà cất nhà mới ở Cần Thơ, các con đều gia đình vui vẻ, cháu nội cháu ngoại đầy đàn. Dượng Bảy rất thích tôi, mà tôi cũng rất thích ổng. Mỗi lần tôi về là nhất định dượng cháu phải uống với nhau một bữa thật say. Dượng Bảy tôi nấu ăn cực ngon, ngon thần sầu quỉ khốc luôn bạn ơi. Biết tôi về thế nào ổng cũng làm món giò heo giả cầy hoặc dụm trâu nấu mẻ mà tôi khoái, rồi kiếm rượu đế ngon… kể lại mà tôi còn nuốt nước bọt ừng ực.

5.
Dì Út cũng đẹp, đẹp kiểu khác nữa, đẹp kiểu hiền lành, nhẹ nhàng. Dì Út chỉ có một thằng con, nó là thằng Nghị, ở quê mà chỉ có một con là hơi bị hiếm, nhưng trường hợp của Dì Út thì có lý do.

Dì Út lấy chồng, đó là một mối tình đẹp. Sau đám cưới Dì Út qua nhà chồng ở. Nhà Dượng Út nghe nói rất khó khăn và khắc nghiệt, đặc biệt là người mẹ. Không thể chịu nổi cảnh mẹ chồng nàng dâu, Dì Út muốn ra riêng. Dượng Út, dù rất yêu vợ nhưng lại sợ mẹ nên đành vâng lời mẹ, chia tay với Dì lúc thằng Nghị vừa ra đời. Nửa đường gãy gánh, nuốt nước mắt với bao nhiêu khổ nhục và phải đấu tranh vất vả lắm Dì Út mới giành được quyền nuôi thằng Nghị.

Tưởng rằng đã xong. Nhưng hơn chục năm sau, lúc thằng Nghị đã lớn thì Dượng Út lâm bạo bệnh, bị bệnh gì về cột sống mà Dượng chỉ còn ngồi liệt một chỗ, mặt quay về một hướng. Thương cảnh chồng cũ bịnh tật, cô đơn không ai chăm sóc. Dì Út quay lại với Dượng, đưa Dượng Út về nhà đề Dượng được làm cha, làm chồng, dù Dượng vẫn chỉ ngồi liệt một chỗ, mắt nhìn về một hướng.

Tết vừa rồi tôi cũng ghé nhà Dì Út chơi. Dì Dượng vui lắm, nhà cũng mới cất, nhà đẹp và thoáng mát, thằng Hà Văn chạy lon ton từ trước ra sau. Thằng Nghị có đứa con gái, đó cũng là một niềm vui của Dì Dượng.

6.
Cả bốn người con gái của Ngoại đều đẹp, nhan sắc thuộc loại mê đắm lòng người, nhưng hơn tất cả, tấm lòng, tình yêu, nghị lực và đặc biệt là sự hy sinh cho gia đình của cả bốn người mới thực là những vẻ đẹp tỏa sáng rực rỡ.

7.
Ở miền tây không có gì đáng để xem, để chơi, để đi du lịch… đâu. Tin tôi đi, đi chơi là thất vọng đó. Ở miền tây chỉ có một thứ đặc sản khiến tôi mê mẩn, một thắng cảnh đẹp nhất mà thiên hạ từng biết đến. Đó là tấm lòng người miền tây, nó "đẹp như bông lúa chín con sông phù sa thơm phức..." (Tình đẹp Hậu Giang)


8.
Hôm nay là ngày Gia Đình Việt Nam 28-06

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

0-12

...

Đội bóng Không Gian Đẹp thành lập đã gần 4 năm, thực ra công ty Không Gian Đẹp có đến 3 đội bóng đã từng tham gia thi đấu: đội bóng Kiến Trúc Sư KGĐ, đội bóng Văn Phòng KGĐ và một đội của Xưởng SX KGĐ, các đội bóng này vẫn thường xuyên tập luyện và tham gia thi đấu tại các giải đấu phong trào để tăng cường thể lực và tinh thần đoàn kết của anh chị em CNV công ty.

Năm 2011, đội bóng Văn Phòng KGĐ tham gia giải Bóng Đá Mini Doanh Nghiệp Tp. HCM Mở Rộng tại trung tâm thể thao A2, 18D Cộng Hòa, Q. Tân Bình. Giải có 32 đội được chia thành 8 bảng. Bảng đấu của công ty KGĐ gồm các đội:

- Không Gian Đẹp
- Đạt Vĩnh Tiến
- SYS.CO
- Điện Toán Đám Mây

Lịch thi đấu vòng bảng:
- CN 26/06/2011 11h: KGĐ - Đạt Vĩnh Tiến
- CN 03/07/2011 10h: KGĐ - SYS.CO
- CN 10/07/2011 10h: KGĐ - Điện Toán Đám Mây

Một số hình ảnh của trận đấu hôm qua,










Một nữ cổ động viên xinh đẹp của đội bóng KGĐ


Kết quả chung cuộc: 0 - 12, phần thua thuộc về đội KGĐ, có lẽ một đội bóng nghiệp dư của công ty gồm các KTS, các Kỹ Sư vốn quen việc bàn giấy, không phải là đối thủ của một đội bóng được tổ chức khá chuyên nghiệp và bài bản, có cả HVL, chuyên viên y tế. Nhưng có hề gì, dù sao cũng là một trận đấu hết sức, hết mình và rất vui.

Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2011

bản ngã lao lung...


...

1.
Hôm rồi, nhân ngày Nhà Báo Việt Nam 21-06 (gọi ngày nhà báo được rồi, thêm chữ Cách Mạng vào nghe nó hơi thừa, ở Việt Nam ta làm gì mà chả cách mạng chứ), tôi định viết một entry, đại khái như kiểu “Báo Chí – Chuyện bây giờ mới kể”, nhắc mấy chuyện ngày xưa tập tành viết báo, có nhiều kỷ niệm vui buồn. Nhưng rồi ngẫm lại thôi, mình sánh thế nào được với các nhà báo chân chính, kể ra có khi làm xấu cái nghề cái nghiệp của họ.

2.
Hôm rồi lại được nhuận bút, ba bốn bài gì đó gom lại cũng kha khá, chưa kể thêm ba bốn bài gì đó chưa đòi được. Đem tiền về tặng vợ thấy rất vui, bảo em thích gì thì mua (gớm, có triệu mấy mà bảo thích gì thì mua), thực lòng tôi không quan tâm chyện tiền bạc lắm, hehe, tôi chỉ quan tâm là được bao nhiêu tiền mà thôi và quan trọng là được lên báo, hehe, cảm giác được lên báo oai phết. Già rồi còn ham hố vậy đó.

3.
Quay lại chuyện ngày xưa viết báo, có lần tôi dẫn bạn Thắm đi chơi. Tôi hết tiền, xe đạp thì đã bán nên hai đứa đành nắm tay nhau đi bộ ra công viên chơi. Ra đến công viên chớt nhớ mình có một bài báo ở SGGP, nếu đúng lịch thì hôm ấy lãnh được. Tôi bèn ngoắc chiếc xích lô và thế là hai đứa tung tăng ngồi xích lô đến tòa soạn SGGP, lúc ấy đã 4h30 chiều, chỗ tôi vẫn thường lãnh nhuận bút ở văn phòng tòa soạn đã kéo cửa. Chết thật, tiền đâu mà trả tiền xích lô bây giờ.

May thay, chị kế toán chưa về, vẫn còn đang loay hoay ở tòa soạn, tôi sấn lại trình bày hoàn cảnh và được chị vui vẻ quay lại, mở cửa phát nhuận bút. Chính xác là 80.000đ. Chúng tôi có một buổi tối khá thịnh soạn, bao xích lô đi chơi, ăn bánh xèo, uống café Compact Disk (thời đó quán café nào sang mới in chữ Compact Disk lên bảng hiệu).

4.
Tôi vẫn loay hoay tiếp tục với việc học đàn guitare, đã hạ quyết tâm từ cách đây cả năm, đã mua đàn, mua sách nhưng bập bùng được mấy bữa rồi lại bỏ đó. Mới đây khi bạn Thắm đưa bạn Hà Thi đi học đàn organ ở NVH Quận vào buổi tối, bạn Thắm thấy lớp học nhạc chỉ có vài bạn leo teo, cảm thương ông thầy giáo già nên cũng ghi danh xin học guitare chung với bạn Hà Thi. Thực ra bạn Thắm lúc còn bé đã khá vững về nhạc lý và cũng có thể chơi đàn guitare sơ bộ rồi, bây giờ ôn lại thôi. Bạn Thắm học bữa nào về chỉ lại tôi bữa đó, thế là mấy hôm nay đêm đêm sau khi con cái đi ngủ thì hai vợ lại mang đàn ra ban công, bập bùng bập bùng. Mấy ngón tay tôi giờ đau buốt, nản quá. Tôi gọi đây là một bậc thang thử thách cho cái bản ngã lao lung của mình.

5.
Tôi rất thích bạn Hà Văn, có rất nhiều thứ để bạn phải phát cuồng với bạn ấy. Ví như bạn ấy không bao giờ gọi ba, mẹ, chú, cô hay chị…không bao giờ, bạn ấy chỉ gọi tên, bạn ấy luôn gọi tôi là Hà Phú ơi, gọi chị là Hà Thi ơi, gọi mẹ là Thắm ơi, gọi chú là Khánh ơi… nghe bạn ấy gọi thì phát cuồng lên ngay. Hà Thi ngày xưa cũng thế, chỉ gọi tên, Phú ơi, Thắm ơi. Bạn Hà Thi còn yêu hơn, lúc bé bạn ấy toàn tự xưng “em”, không bao giờ xưng “con” hay “cháu” cả, chỉ xưng “em”. "Phú ơi, bế em"

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

“thế hệ chúng tôi”



...

Tôi cũng chưa già lắm để mà tự xưng là “thế hệ chúng tôi”, nhưng cũng đã qua 20 năm kể từ khi tôi rời ghế nhà trường, nên cái câu “thế hệ chúng tôi” chỉ là để dành kể cho các em đang chuẩn bị thi đại học bây giờ mà thôi.

-         Thế hệ chúng tôi chưa có mô hình đại học dân lập, đại học tư thục hay các trường dạy nghề hoành tráng như hiện nay, thời ấy chuyện đi du học nước ngoài cũng xa vời lắm. Thế hệ chúng tôi chỉ có một con đường để đi, đó là vào đại học công lập. Có thể bạn không hình dung hết, nói nôm na là việc thi rớt đại học đối với nhiều bạn bè tôi là một điều gì đó ghê gớm lắm, như kiểu bị tàn phế vậy.

-         Thế hệ chúng tôi là thế hệ đầu tiên được làm quen với máy vi tính ở Việt Nam, dù chỉ là trên DOS với cái đĩa mềm 360K to bằng cuốn tập. Các thầy giáo dạy vi tính lúc bấy giờ còn gõ từng chữ một lên bàn phím, sau này cái máy 286 ra đời đã làm mọi thứ dễ dàng hơn. Tôi đã không nhĩ rằng đến lúc cái máy vi tính trông hiện đại, sexy như bây giờ.

-         Thế hệ chúng tôi là thế hệ đầu tiên chính thức đưa tà áo dài truyền thống vào nhà trường làm đồng phục cho các bạn nữ, tôi nhớ những ngày đầu ngồi nhìn các bạn nữ mặc áo dài đi về trên con đường rợp bóng cây, hình ảnh đẹp tuyệt. Đó là một việc tốt đẹp hiếm hoi mà nhà nước đã làm được cho ngành giáo dục, cho đến bây giờ.

-          Thế hệ chúng tôi không có email, facebook hay blog. Để liên lạc với nhau chúng tôi vẫn viết thư tay như cha anh đi trước. Chúng tôi viết những lá thư trên những tờ giấy “pô luya”, (các bạn nữ còn ướp giấy với cánh hoa để tạo mùi thơm) học cách xếp thư và gửi nó qua đường bưu điện để rồi mong mỏi chờ hồi âm, hệt như 100 năm trước. Có vài lá thư rất sến thường bắt đầu bằng “ từ em gái phương xa” hay  “từ anh trai phố núi”, kiểu vậy.

-         Thế hệ chúng tôi không có nhiều thông tin và (có thể nhờ đó mà) khá lành mạnh trong tình cảm trai gái. Tôi nhớ thằng bạn hư đốn của mình có tấm hình một cô gái mặc bikini hở hang và chúng tôi chuyền tay nhau như một thứ hàng quốc cấm. Nhiều đứa trong chúng tôi, trong đó có tôi, không biết chính xác việc quan hệ nam nữ đi xa hơn thì sẽ như thế nào. Bây giờ thì những hình hót của các cô gái có đầy ở khắp mọi nơi, còn các tạp chí, các trang mạng thì đua nhau dạy bạn hàng hà sa số cách để “lên đỉnh”.

-         Thế hệ chúng tôi là thế hệ cuối cùng, vâng điều này quan trọng nhất mà tôi muốn nói, là thế hệ cuối cùng chưa bị cái vấn nạn gọi là “cải cách giáo dục”. Chính xác là sau tôi đúng một năm thì bắt đầu phong trào “cải cách giáo dục”, và bạn biết đấy, từ đó mọi thứ trở thành một đống bầy hầy mà ngành giáo dục, à không, cả một thế hệ của xã hội đã sa vào và hiện vẫn không có lối thoát.

Nghe đâu chuẩn bị cải cách nữa đó.

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2011

dành cho các fan của chàng đẹp trai

...
LTS: chụp mấy người đẹp này sướng thiệt, chả cần canh ánh sáng, bố cục, tốc độ, khẩu độ... gì sất, cũng chẳng cần chỉnh sửa gì trên P/S, cứ bấm cái cạch là xong.









Thứ Hai, 20 tháng 6, 2011

mỗi mùa hoa đỏ về...


...

Hôm trước anh nói với nàng, có lẽ anh sẽ đi đâu đó, gần thôi, những chỗ nàng không nên đi theo, không phải anh không muốn nàng theo mà vì những cuộc đi ta bà như thế luôn không được kế hoạch, luôn say sưa và bụi bặm, đôi khi còn ẩn chứa nỗi hiểm nguy. Anh sẽ đem theo máy ảnh và cần câu, hai thứ mà anh thích, sẽ hưởng thụ cái khoan khoái của một tấm ảnh ưng ý và kiếm một chỗ vắng, nướng con cá mà mình vừa câu được để nhắm rượu. Anh nghĩ vậy.

Anh đang nghĩ đến Lào, anh đã luôn muốn đi Lào, một xứ sở yên bình và quen thuộc đến mức khi nói về nó anh cứ hình dung đó là một tỉnh miền núi, ừ, một tỉnh miền núi. Rồi anh lại đổi ý, anh muốn đi đảo Lý Sơn, nghe nói ở đó biển đẹp và người dân cũng thân thiện, thực ra cùng với người miền tây thì người xứ Quảng cũng là những người anh rất thích, dù đôi khi anh không nghe hết điều họ nói, người Quảng cương trực, phóng khoáng và thân thiện. Hoặc giả anh quay lại Côn Đảo, nơi những ngày lênh đênh trên biển câu cá Thu luôn trở lại trong những giấc mơ của anh. Anh vẫn chưa đi đâu, dù nàng vẫn nói rằng anh cứ đi, anh thích đi đâu thì cứ đi. anh vẫn chưa đi đâu...

Đêm qua anh có một giấc mơ, đêm nào anh cũng có một giấc mơ nhưng chúng đa phần đều lụn vụn, rời rạc hoặc vô lý, giấc mơ đêm qua thì khác, nó rõ ràng, rành mạnh như một cuốn phim. Trong giấc mơ anh thấy lại mình ngày cũ, mười sáu mười bảy tuổi, đang đạp xe lạng lách trong sân trường mát rượi bóng xà cừ, giả vờ cố lao vào một nhóm bạn gái mặc áo dài trắng để rồi cười khoái trá chạy hút khỏi những ánh mắt giận dữ bám sau lưng áo.

Anh mơ thấy ngôi trường đó như thể anh đang đứng trước nó, hàng cây xà cừ cao rợp bóng, sân trường rộng mênh mông và dãy lớp học hai tầng có hành lang gió lộng. Anh thấy mình nhét cuốn vở vào túi quần sau và đi lang thang trong sân trường, thỉnh thoảng anh nhặt một trái xà cừ, trái lớn gần bằng cái trứng gà và tìm một mục tiêu vu vơ để ném, đôi khi nghịch ngợm, anh ném vào một mái tôn để tạo ra một tiềng động thật lớn, như đâm xuyên qua tấm màng trắng thinh lặng của sân trường.

Anh mơ thấy mình ngồi trong lớp học, chỗ cái bàn cuối cùng, trong góc tường, nơi gần cửa sổ hướng ra hành lang để những lúc làm biếng anh có chỉ đợi cô giáo quay lên bảng là phắt ra khỏi lớp bằng một cú nhảy nhẹ và êm hơn một con mèo. Anh nhìn rõ từng gương mặt thầy cô trên bục giảng, cô Trang dạy văn hiền khô, cô Hòa dạy Sinh rất khó tính, cô Hoa dạy Sử rất chịu chơi, thầy Lâm (mát) dạy toán rất tức cười… ánh mắt họ nhìn anh hệt như cách đây hai mươi năm, hệt như vậy, luôn ánh lên nét cười độ lượng.

Anh mơ thấy cái quán cóc trước cổng trường, nơi sáng nào anh cũng ngồi đợi đến khi các bạn đã vào lớp hết rồi anh mới lững thững đi vào, sáng nào cũng một ly café và hai điếu thuốc để anh ngồi tập làm thơ, những bài thơ ngắn lụn vụn mà thực ra là bản sao mờ nhạt và dở ẹc của những bài thơ đã nổi tiếng mà anh đã đọc. Bà chủ của cái quán cà phê cóc ấy là người dân tộc, hình như là người S’Tiêng thì phải, anh nghe tiếng bà nói vọng vào cho con gái mỗi khi thấy anh: “thắng Phú, mốt lý hái điếu”.

Anh mơ thấy cái quán bà Má, cái quán tạp hóa gần trường có bán chè và bán rượu, chè đậu xanh bà má nấu lợt nhách, bỏ đá vào thành lõng bỏng, húp cái rột chỉ để giải khát. Rượu bà Má cũng tự nấu, rượu gạo ngon lắm, anh vẫn thường ghé vào buổi chiều, nhất là bữa có mưa, giả làm như có tâm sự buồn để kiếm cớ uống một vài ly. Bà Má rất thương anh, và thương luôn đám học trò ngỗ nghịch thời đó, nhiều bữa chui vô nhà bà ăn cơm, vét đến gần thủng cái nồi gang cũ của bà chỉ với một miếng cá khô mặn chát...

… cuối của giấc mơ là cảnh anh đang ngồi trước cổng trường, không phải anh của hai mươi năm trước, mà là anh của hôm nay.
...

Hôm trước anh nói với nàng, có lẽ anh sẽ đi đâu đó, nhưng anh chưa đi, anh nghĩ đến nhiều nơi lạ, anh vẫn chưa chọn nơi nào, mà cũng có thể anh chỉ quay về ngôi trường cũ, như trong giấc mơ của anh, đêm qua.


Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2011

chuyện nghe kể



1.
Chuyện mẹ tôi kể, người thật việc thật.

Có một anh bộ đội quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh nhưng được điều động đi đóng quân ở tận Cà Mau, ở bìa rừng U Minh. Anh bộ đội khi đến đóng quân ở đây đã nhận thấy đời sống nhân dân trong vùng còn nghèo, điều kiện y tế giáo dục đều chưa có, nhất là dành cho trẻ em. Vì cũng xuất thân từ một vùng quê nghèo nên anh bộ đội rất thấu hiểu, anh và các đồng đội của mình đã xắn tay áo lên và làm hết sức để giúp dân, làm nhà, làm trạm xá, làm đê ngăn mặn, dạy chữ, làm thư viện, chữa bệnh, chữa cháy rừng... Anh là một người lính chân chính. Sau khi hết hạn nghĩa vụ, anh vẫn xin phép được tại ngũ, được ở lại mảnh đất xa xôi, tận cuối cùng của đất nước.

Một lần, khi hết hạn nghĩa vụ và trước khi anh chính thức tại ngũ,  anh được về phép thăm nhà. Bà con ở khu vực anh đóng quân hay tin, họ đến chia tay rất đông, ai cũng cho mật, là loại mật ong rừng tràm còn tươi nguyên trong những miếng sáp ong vàng rộm, một đặc sản U Minh, rất ngon. Anh quí lắm, mật ong ở U Minh thì cũng bình thường, nhưng ở quê anh thì nó rất quí. Anh chắt mật ra được đầy một cái can nhựa lớn, can mười lít.

Trên chiếc xe đò xuyên Việt về quê anh, anh đã ôm cái can mật ấy trong lòng suốt hai ngày trời, và luôn miệng kể cho mọi người trên xe về nó, về tình cảm của đồng bào dành cho anh, anh kể đi kể lại đến mấy lần, thậm chí còn mở nắp can cho một vài người tò mò muốn nếm thử mật ong rừng U Minh, có thể dễ thấy là anh đã quí can mật ong đó như thế nào.

Vậy mà có chuyện không may. Chiếc xe đã vào địa phận Hà Tĩnh bỗng gặp một tai nạn nhỏ, rất nhỏ đối với một chiếc xe xuyên Việt, thực ra chỉ sánh bằng một cú nhảy ổ gà, nhưng có lẽ can mật sóng sánh đã không chịu được thêm nữa, nó vỡ tan trên tay anh.

Ngay khi can mật quí vỡ tung ra cùng với tiếng hét thất thanh của anh, rất nhiều người trên xe nhanh nhẹn đã dùng tay, dùng bi đông nước, dùng túi nylon, dùng nón, thậm chí có người cởi phăng áo để hứng lại mật cho anh. Mười lít mật ong vàng óng sau khi hứng lại chỉ được chừng hai lít, lại còn dính bụi bẩn và váng chút dầu xe, nhưng có cũng còn hơn không. Những người trên xe, thậm chí cả bác tài không khỏi xúc động trước một anh bộ đội mặc quân phục trông có vẻ rất hiên ngang mà lại ngồi khóc hu hu như một đứa trẻ. Anh không khóc vì mất can mật, anh có tiếc gì mật ong, dù nó quí thật nhưng sao quí bằng tuổi trẻ của anh đã bỏ ra.

Anh thương cái tình đồng bào mình, anh nói vậy.

2.
Chuyện báo Tuổi Trẻ kể, cũng người thật việc thật.

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

lấy yếu thắng mạnh

...
chuyện đọc đâu đó, nhớ linh tinh, chẳng biết có trúng không

Có hai võ đường đấu với nhau một trận đấu sinh tử, mỗi võ đường cử ra 3 võ sĩ ở 3 cấp độ theo thứ tự từ cao đến thấp: 1,2, 3. 
Bên A có 3 võ sĩ: 1A, 2A và 3A 
bên B có 3 võ sĩ 1B, 2B và 3 B. 

Xét tổng quan thì đây là một cuộc đấu không cân sức, vì bên A từ lâu vốn mạnh hơn bên B, xét về từng vị trí cấp độ thì bên A cũng mạnh ơn bên B. Cuộc đấu sẽ chia làm 3 hiệp, bên nào thắng 2 hiệp coi như thắng. Ai cũng nghĩ bên B cầm chắc phần thua. 

Nhưng Võ sư bên B vốn biết mình yếu thế nên phải tính toán, nếu đấu ngang cấp độ như thường lệ sẽ cầm chắc phần thua, chi bằng hoán đổi vị trí võ sĩ, hy sinh một trận đầu mà thắng hai trận còn lại

Trận một: Lấy 3B đấu với 1A: Thua tơi tả
Trận hai: Lấy 1B đấu với 2A: thắng suýt soát 
Trận ba: Lấy 2B đấu với 3A: thắng suýt soát

Vậy là trái với dự đoán, bên B, tuy yếu thế hơn nhưng vẫn chiến thắng chung cuộc.

Ta có thể theo kế trên mà hành:
Tàu địch đến, ta tránh hải chiến, đón địch bằng máy bay, cứ quăng tên lửa loạn lên cho tôi
Hải quân ta yếu, không đủ sức kháng cự thì ta đem tàu đi tập kích, sang cơm gà Hải Nam chẳng hạn, (vì lúc này tàu nó đi hết nên cơm gà Hải Nam có thể bỏ trống)
Bộ binh ta mạnh, kết hợp tăng, pháo, lúc có chiến sự trên biển thì cứ thọc vào sườn nó mà bửa.

Lo gì

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2011

Gió lẻ

...

1.
Hôm qua tôi đọc lại Gió lẻ (trong “Gió lẻ và 9 câu chuyện khác”), thực ra tôi đã đọc nó một lần, nhưng đọc lại vẫn như mới, lý do mà tôi đọc lại nó là vì nó nằm ở cuối tập truyện theo thói quen đọc ngược của tôi, đọc xong thì chẳng muốn đọc “9 câu chuyện khác” nữa hoặc giả nếu có đọc thì nó cũng không hay bằng, coi như là không hay, cũng như khi bạn có một nỗi buồn đến mức thấy những nổi buồn khác là vô nghĩa.

Chuyện có kiểu thắt mở từ từ, các xen cảnh được chuyển qua chuyển lại, nhân vật trung tâm cũng đảo vai liên tục, chậm rãi và nhiều hình ảnh, nhiều tiếng động như một kịch bản phim, kiểu viết này có thấy nhiều người xài,  Raymond Caver chẳng hạn, nhưng mấy chuyện của RM thì còn lâu mới bằng Gió lẻ, vì trong đó có một thứ theo suốt chiều dài câu chuyện, một thứ nửa bí ẩn nửa thân thuộc, như một ngọn gió lạnh mồ côi âm ỉ thổi qua nỗi buồn từng phận người, tê tái đến mức quyến rũ.

Trong Gió lẻ, nhân vật cô gái, gần như bị câm, hoặc được coi là câm, vì cô không thích nói tiếng người, thứ tiếng mà cô cho rằng luôn chứa đựng sự dối trá và làm đau người khác, cô chọn nói một thứ tiếng khác, thật thà và vui hơn nhiều, tôi thích khi cô nói những câu nói đó, đôi lúc tôi nghĩ mình đã có thể nói những câu như thế, những khi tôi thật thà.

Bất giác tôi nhớ Tư, Tư hầu như đã nói thứ tiếng thật thà ấy.

2.
Tôi có lần gặp Tư ở Hà Nội, thực ra phải nói là Tư thấy tôi thì đúng hơn. Lúc ấy tôi xuống máy bay và đang chờ lấy hành lý nên chẳng để ý chung quanh, Tư gặp bạn Hà Thi trong nhà vệ sinh nữ và biết rằng tôi đang ở HN. Vợ chồng tôi muốn rủ Tư đi chơi nhưng tối đó Tư phải dự buổi chiếu ra mắt phim CĐBT, chúng tôi hẹn hôm sau. Hôm sau tôi gọi điện thì Tư đang leo lên đỉnh núi Yên Tử, lúc ấy là buổi chiều và tính cả thời gian xuống núi lẫn thời gian từ Uông Bí về Hà Nội thì chắc không gặp nhau được nữa.

Mãi lâu sau đó chúng tôi mới gặp nhau. Trong bữa rượu, tôi có nhắc chuyện cũ và hỏi Tư là sao hôm ấy đi Yên Tử mà đi cả ngày trời, tại sao lại leo núi, sao không đi cáp treo cho lẹ. Tư hồn nhiên kể về hành trình cả ngàn bậc thang dẫn lên đỉnh núi Yên Tử và cả ngàn bậc thang khi xuống núi và những cảm nhận, những suy nghĩ trên đường đi.

Tư nói: Mình đến với Phật phải đi với lòng thành, phải đi hết bậc thang lên núi thì mới thể hiện và trải nghiệm được tấm lòng của mình.

3.
Tấm lòng, và tiếng nói thật trong lòng nếu như bạn nghe được, luôn có những kết nối vô hình, bạn phải có nó bạn mới nhìn thấy được của người khác.



Thứ Hai, 6 tháng 6, 2011

việc xưa xem xét, chứng cớ còn ghi...

...


Hôm rồi con gái tôi hỏi tôi rằng: Phú có biết nước mình ngày xưa từng có tên là Đại Ngu không? tôi ngớ người, thực tình không nhớ nổi có lúc nào mà nước ta đặt tên nước "Đại Ngu" thế không biết. Hóa ra là Hồ Quí Ly, tra sử thấy Hồ Quí Ly công nhiều mà tội cũng nhiều, nhưng cái tội lớn nhất chính là tội để mất nước.


Trung Hoa từng tham vọng cả ngàn năm tìm cách xóa sổ Đại Việt, đồng hóa dân Việt ta nhưng đều thất bại. Mãi đến năm 1407, khi thấy nhà Hồ lên ngôi nhờ bức tử vua Trần và giết hại cả triều đình, ắt là không thuận lòng dân, nên từ Trung Hoa, nhà Minh lấy cớ xua quân tràn vào Đại Việt. Nhà Hồ nhanh chóng thất thủ và Đại Việt ta bị chìm trong cảnh khói lửa, chết chóc. Lần này nhà Minh quyết tâm triệt hạ Đại Việt nên đã cho quân đốt bỏ toàn bộ sử sách, phá bỏ các văn bia, thậm chí là cho thiến hoạn đàn ông Đại Việt để triệt luôn giống nòi.


hình lượn trên nét


May thay cho Đại Việt ta, xuất hiện một Lê Lợi với câu nói bất hủ: "Đại trượng phu phải giúp nước lúc gặp nạn, lập nên công lớn, chứ lại chịu đi làm đầy tớ người ngoài ư"?. (Nói tới đây lại mong các bác nào hay bảo việc gì phải nhắng lên với cụ Rùa ghẻ lở ở Hồ Gươm thì nên nghĩ lại chút). Chuyện sau đó thì ai có đọc lịch sử hoặc "Hội Thề" đều đã rõ, nay chỉ chép lại Bình Ngô Đại Cáo, bản dịch của cụ  Ngô Tất Tố, một áng sử thi ngời sáng của Đại Việt ta. (Phú tôi rất thích Bình Ngô Đại Cáo, đã mấy lần họa bài này)




Bình Ngô Đại Cáo


Thay trời hành hóa, hoàng thượng chiếu rằng,
Từng nghe: 
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cho nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết chí lớn phải vong thân;
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét.
Chứng cứ còn ghi.
Vưà rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thưà cơ gây loạn
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,
Ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
Khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
Máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất,
Chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lòng người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha;
Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm lòng cứu nước,
Vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền,
Thường chăm chắm còn dành phía tả.
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng,
Miịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng,
Vội vã hơn cứu người chết đói.
Phần vì giận quân thù ngang dọc,
Phần vì lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cõi một nhà,
Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử,
Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạọ
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đã hăng quuân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm
Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy,
Mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh
Mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong,
Giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất,
Ta đây mưu phạt tâm công.
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn
Nên đã thay lòng đổi dạ
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính
Lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người,
Gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc,
Để cười cho tất cả thế gian.
Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín,
Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười,
Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm,
Chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường
Tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Dánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Lê Hoa,
Quân Vân Nam nghi ngờ, khiếp vía mà vỡ mật
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm,
Quân Mộc Thạnh xéo lên nhau, chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông,
Nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi,
Cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù,
Như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại,
Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
Linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;
Than ôi! Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.

....




này tàu lạ, có phải lũ bay là hậu duệ của Vương Thông, Liễu Thăng ngày trước, mau về tra sử mà coi rồi hẵng qua đây cắt cáp, kẻo hối không kịp.

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...