Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010

Ơi đất mũi Cà Mau, trăm thương ngàn mến…(2)

...

Xem phần đầu ở đây

Chúng tôi trở về căn nhà ở bìa rừng sau khi đã ghé hái một chùm mận ngọt chín đỏ trên cây và cảm giác sảng khoái vì thoát được đàn muỗi đói. Tư đang đợi chúng tôi, sẵn sàng với hai con cá lóc lớn bắt trong rừng đã nướng trui còn đương bốc khói, mấy dĩa rau rừng xanh um, nhiều loại tôi chẳng thể nhớ tên và một chai rượu trái Giác tím sẫm.

Rượu trái Giác thơm ngon, ngọt lừ như Nếp Cẩm nhưng lại nồng men hơn, lúc uống thì rất êm nhưng cũng mau phê, mà phê thì rất là…phê, ta nói là “như con dê” luôn. Rượu ngâm với trái Giác, một thứ trái chua, mọc đầy ở U Minh, dân tình thường dùng trái xanh để kho cá hoặc nấu canh chua, nghe cũng đã bắt đầu dậy cơn thèm.

Tôi vô vài ly rượu để làm nóng, cảm giác rất sảng khoái. Mọi thứ đều “đúng điệu”, “đúng điệu” là chữ của anh chồng cô Sáo trong “Nước Như Nước Mắt”. Mọi thứ đúng điệu đến nỗi tôi nghĩ rằng mình đang nằm mơ, rằng tất cả được sắp đặt để mình tận hưởng cuộc sống này, tận hưởng ngày hôm nay cho thật đã, thật đỉnh.



Đúng điệu là con cá lóc rừng nướng nó thật dai thịt, nó bốc khói và thơm lừng như quê hương. Đúng điệu là cá lóc nướng phải chấm với muối ớt, muối hột đâm ớt hiểm, thứ ớt nhỏ trái, cay nồng và thơm, rồi dằn một quả tắc chín mọng. Dùng tay xé miếng thịt cá nướng trắng phau chấm vào muối ớt chua cay, rồi tay kia vo vài lá rau rừng, ăn một miếng, tôi nghe tất cả những vị ngon tôi từng biết trong đời đều vô nghĩa, vô nghĩa hết.  Ăn thế, ngửa cổ uống ly rượu trái giác trong buổi chiều tà giữa rừng U Minh, bên cạnh một người vợ yêu, một người anh thân, một bạn Tư mến… tôi có mơ, tôi cũng chưa từng mơ đến điều này. Tư kể, bà ngoại Tư chỉ mê món cá lóc nướng kiểu này, bà dặn, mai mốt cúng cơm bà chỉ cần một con cá lóc nướng.



Chúng tôi nói chuyện về rừng U Minh, chuyện sông nước, rồi chúng tôi nói chuyện gia đình, chuyện bạn bè.. loanh quanh cũng mất đứt được một lít rượu. Tiếc là chúng tôi phải về, về trước khi màn đêm buông xuống U Minh như những cuộc vui luôn có lúc phải tàn. Chúng tôi chia tay nhau với lời hẹn sẽ gặp nhau vào buổi tối, tôi mua theo vài chai rượu trái Giác cho bữa tối, dù lúc ra khỏi rừng thì tôi đã bước liêu xiêu. Chuyến đi rừng này bạn Tư đãi tôi toàn bộ.



Buổi tối chúng tôi gặp nhau ở một quán khá đẹp, một cái lẩu cua thật đặt biệt với thịt cua ngọt lừ và gạch cua đỏ quạch, với thật nhiều rau xanh tươi, với bún dai riêng kiểu Cà Mau… phải nói là cái lẩu cua ngon nhất mà tôi từng ăn. Chúng tôi tiếp tục với mấy chai rượu trái Giác đem về từ U Minh và những câu chuyện dang dở buổi chiều.

Tôi chỉ thích nghe Tư nói về gia đình, về cha mẹ, về chồng Tư, một anh thợ bạc hiền như sông,  về hai đứa con trai, đều tên là An, một cái tên cũng thật hiền và về căn nhà ở mé sông nhiều kỷ niệm. Tôi thích cách Tư nói về gia đình mình, cách Tư nghĩ về gia đình mình, nó miền tây lắm, nó hiền lắm, thương lắm.

Tôi định sáng sớm hôm sau sẽ đi Mũi Cà Mau bằng cách chạy xe xuống Năm Căn rồi đi tàu cao tốc ra, muốn đi và về trong buổi sáng thì chúng tôi phải khởi hành từ 5h sáng. Nhưng một lít rượu trái Giác cộng với đêm trước không ngủ và một chặng đường gần 500km đã làm tôi dậy muộn, mãi đến gần 8h. Chúng tôi đành thay đổi kế hoạch.

Tư đón chúng tôi ở quán Bún Bò Cay, một món đặc sản vùng Bạc Liêu -  Cà Mau mà lần đầu tiên tôi được biết, món này cay xé lưỡi nhưng vị của nó thì ngon vô cùng. Sợi bún dai nấu trong nước dùng bò cay xè, đặc quéo hình như có vị cốt dừa thanh thanh nữa, ăn chung với lá ngò gai (lại nhớ anh chồng Sáo), mấy miếng thịt bắp bò cũng cay, gắp ra chấm muối ớt thật đúng điệu. Đến lúc ngồi viết những dòng này, bao nhiêu dịch vị của tôi vẫn tiết ra vì nhớ về món ăn tuyệt vời ấy. Biết bao giờ mới được ăn lại đây?



Chúng tôi chia tay nhau ở quán café gần đó. Tư gửi tôi một bịch tôm khô thiệt bự, nhắn: Phú đem về nhậu lai rai, tôm khô Cà Mau ngon nhứt Việt Nam, mà tôm khô Việt Nam thì ngon nhứt thế giới. Cảm động, tôi tới Cà Mau làm phiền Tư, còn được đãi nhậu, còn có quà đem về. Cảm động quá.

Tạm biệt Tư, tạm biệt Cà Mau. Bất giác tôi khẽ hát “Ơi đất mũi Cà Mau, trăm thương ngàn mến…”. Mà không, “trăm thương ngàn mến” còn không đủ,  phải là “triệu thương tỉ mến” hay “tỉ thương, tỉ tỉ mến” mới nói hết lòng tôi dành cho mảnh đất và con người nơi tận cùng đất nước này, dành cho cô bạn Tư của tôi, cô Tư không phải nhà văn nha, cô Tư Cà Mau có giọng cười hiền như tiếng sóng va mạn thuyền kìa.

Chúng tôi chọn một đường về khác, vòng vào thành phố Bạc Liêu ra biển rồi đi theo đường Giồng Nhãn chạy cặp đê biển đến Vĩnh Châu, tiếp tục theo đường Vĩnh Hải ra cửa Trần Đề, rồi từ đó men đường Nam Sông Hậu về Cần Thơ. Một cung đường nhỏ, thưa người, vắng xe với những cảnh đẹp tuyệt trần. Xin lấy những tấm ảnh tôi chụp trên đường thay câu chuyện kể. (Vẫn nhắc là click vô hình xem kích thước lớn hơn)



 Con Sam, người ta hay nói vợ chồng tôi : "như hai con Sam"

 Trước nhà Công Tử Bạc Liêu - Bây giờ đã thành một quán cafe, nhà hàng rất là nhộn nhịp



Cây cầu dài này dẫn ra Nhà Mát, nơi Công Tử Bạc Liêu ra biển ngồi nhậu cho ...mát

Trái cây 

 Đá bào, một món hấp dẫn thời thơ ấu, nay gần như rất hiếm, giá chỉ 2 ngàn

Tượng Phật Bà hướng ra biển



Rất nhiều người hành hương đến đây, rưới nước lên chân tượng cho chảy xuống đài sen và dùng nước ấy lau đầu, rửa mặt, nghe bảo rất linh thiêng

 Bánh Xèo Vườn Nhãn - Nổi tiếng xứ này

 Chùa Kh'me



Vịt chạy đồng

 Cửa biển







Thứ Hai, 29 tháng 11, 2010

Ơi đất mũi Cà Mau, trăm thương ngàn mến…(1)

...

Bạn có quen nhà văn Nguyễn Ngọc Tư ở Cà Mau không? Tôi thì không quen, người ấy tài năng lắm, tôi chỉ biết ngưỡng mộ thôi, không có quen biết.

Tôi chỉ quen một cô bạn ở Cà Mau, một cô khác, cũng tên Nguyễn Ngọc Tư. Chúng tôi tình cờ quen nhau khi cùng chung tay giúp một đứa trẻ bị bịnh hiểm nghèo. Chẳng may và đáng buồn, nỗ lực của chúng tôi và của nhiều người khác nữa, đã không giữ được thằng nhỏ, nó về với đất rồi. Từ đó thỉnh thoảng chúng tôi nhắn tin cho nhau, tôi hẹn một ngày không xa, tôi sẽ về đất mũi Cà Mau thăm Tư.

Từ lúc tôi lên kế hoạch đi Cà Mau thăm Tư, tôi đã rủ rê không dưới hai chục người, thân có, sơ có, để cùng làm bạn đường cho hành trình gần 400km xuyên miền tây, về nơi tận cùng đất nước, các bạn đều rất hăm hở, nhưng đến khi chúng tôi khởi hành vào rạng sáng ngày 27-11, chỉ còn một bạn đường duy nhất theo tôi, bạn đường ấy cũng là người bạn đời của tôi, người luôn trung thành với tôi trên mọi nẻo đường giang hồ.

bạn đường duy nhất


Cầu Cần Thơ, ảnh do bạn Thắm chụp

Chúng tôi chọn đường chính và cũng là con đường quen thuộc, quốc lộ 1A, băng qua đường cao tốc Trung Lương lúc trời còn tối và ánh sáng từ đèn pha xe tôi như một lưỡi kiếm xuyên qua màn đêm còn đặc quéo những sương khuya. Về đến Cần Thơ còn chưa tới 8h sáng, chúng tôi ghé vào thăm nhị vị nhạc gia và rủ được thêm ông anh Tư của vợ, anh này chạy xe rành đường miền tây nên vui vẻ nhận lời cầm lái thay tôi tiếp tục hành trình.

Từ Cần Thơ chúng tôi di chuyển khá chậm, nếu không nói là rất chậm. Qua khỏi Sóc Trăng, chúng tôi bắt đầu chạm những cây cầu đang xây, những cây cầu nằm trên quốc lộ huyết mạnh của miền tây nhưng lại được thi công hết sức thủ công, có lẽ để đạt độ tinh xảo cần thiết, chỉ chừng 2~3 người thợ để làm một cây cầu. Và cứ mỗi cầy cầu chúng tôi lại mất 10~20 phút chờ đoàn xe rồng rắn leo qua một cây cầu sắt tạm, trong khi chờ đợi những người thợ thủ công chế tác cây cầu chính, có cây đã được chế tác gần 5 năm mà chỉ mới xong có 2 đường dẫn, quả thật là công phu.





Qua đến địa phận Bạc Liêu thì tình hình còn bi đát hơn, 2 cây cầu ở Tắc Sậy và Giá Rai chiếm mất của chúng tôi hơn nửa giờ. Tôi đói rã ruột, tấp vào một quán nước, được em nhỏ chủ quán rất ngoan mới dùng cơm trưa, chút xíu nữa tôi đã sà vào mâm cơm hấp dẫn với dưa bồn bồn trắng muốt và món khô sặc chết người.


Nhà Thờ Tắc Sậy, nơi nổi tiếng với Đức Cha Diệp

Vào đến Cà Mau thì đã 1h chiều. Biết chúng tôi đói, Tư hẹn chúng tôi đến thẳng quán cơm, một quán cơm ngon, khá đông khách từ phương xa, chúng tôi gọi món canh chua cá dứa, bồn bồn xào giộp, gỏi xoài khô cái bổi…và ngay lập tức tôi bị bữa trưa ngon miệng ấy cuộn lấy mình, như một cơn lũ. Tôi bắt đầu ngẩng lên nói chuyện với Tư khi đã xong chén cơm thứ ba. Tư hỏi, mệt không, còn sức vô rừng chơi không, haha, còn chớ, còn chớ, sức trâu mà, thì đi. “Vô giữa rừng U Minh uống rượu nghe Phú”, trời ơi, tôi muốn khóc luôn với lời rủ rê ấy, giống như đưa heroin cho thằng nghiện đang vả. Chúng tôi lại lên xe và tiếp tục hành trình đi thẳng vô rừng U Minh.

Trước nhà bạn Tư trước lúc vô rừng

Đường vô rừng U Minh

Đường vô rừng nhỏ xíu, chạy cặp theo kinh, hai bên thường có mấy bờ lau trắng muốt, rất đẹp. Chúng tôi gửi xe ở bưu điện U Minh sau 40 phút men theo con đường nhỏ xíu ấy và lên vỏ lãi, tiếp tục chạy thẳng vô rừng. Đến nơi, một căn nhà nhỏ nằm giữa khu vườn ở bìa rừng mà muốn đến phải tiếp tục qua một cái phà tự chế bằng ván và thùng phi cũ, đến nơi mới biết, bạn Tư đã chuẩn bị để đón tiếp chúng tôi khá thịnh soạn và nói không ngoa, đó là một buổi chiều đáng nhớ trong đời tôi.




Chúng tôi được một Chế dùng thuyền chèo đưa sâu vô rừng tham quan với lời nhắn: “đi một vòng rồi quay lại uống rượu Trái Giác với cá lóc nướng trui ăn kèm rau rừng U Minh nghe”, nghe vậy chỉ muốn đi lẹ để quay lại. “U Minh bốn bề là tràm”, quả nhiên không sai, chúng tôi ba người trên con đò nhỏ, chật vật, xoay xở, chống đẩy trên một hành trình gian nan đi xuyên rừng. Và muỗi, muỗi ở trong rừng U Minh hình như có bà con với muỗi trên Sài Gòn vì tôi từng nghe một con muỗi ở Sài Gòn kêu con muỗi ở U Minh là “bà cố nội”, những con muỗi đen, chân dài, và tấn công người giữa ban ngày như một bầy ong. Muỗi chích xuyên qua áo, xuyên qua quần Jeans, đập con này thì chừng chục con khác xông vô thế chỗ, và kèm với muỗi là bầy kiến đen trên những nhánh tràm cũng chờ đợi chúng tôi để dùng bữa chiều. Đôi chỗ không đi được, chúng tôi phải bỏ xuống leo qua những nhánh tràm để tiếp tục hành trình, một đi không trở lại, có lúc tưởng đã không ra khỏi rừng được.



Hoa giữa rừng tràm



Có một vệ sĩ theo bảo vệ chúng tôi trên suốt hành trình, vệ sĩ này đẹp trai vô cùng, oai dũng vô song. Anh không đi trên xuồng, anh bơi qua kinh, anh băng luồn rừng, anh xục xạo các bụi rậm, anh khua cho đàn chim rừng hoảng sợ bay rợp trời để chúng tôi xem.



Và rừng U Minh thật sự đã bồi thường tổn thất do muỗi gây ra cho chúng tôi bằng những thứ tuyệt vời, quá tuyệt vời, đó là bạt ngàn tràm, đó là thảm xanh ngút mắt, đó là vẻ yên tĩnh đến đông đặc của không gian, đó là những đàn chim rừng về tổ rợp trời, đó là con Gõ Kiến đầu đỏ đẹp như trong tranh, đó là bầy sóc bông chuyền cành gương đôi mắt tròn vo nhìn khách lạ, đó là những tổ ong căng mật trên nhánh tràm. Chúng tôi thõa mãn với những bù đắp ấy, vượt xa sự mong đợi của mỗi người.




(Còn Tiếp)

Chủ Nhật, 28 tháng 11, 2010

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...