Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010

Đối thoại trước khi ngủ

Cho Hà Thi



- Con gái lớn rồi, sắp lấy chồng rồi mà tối ngủ với ba hoài vậy sao
- Con đã lớn đâu, con mới 9 tuổi, còn ngủ với ba được mấy năm nữa



- Sao ba không ôm con
- Trời nóng quá, ba nằm ngửa mới thở được
- Vậy con ôm tay ba hén
- Ừ, tay nè, ôm đi
- Tay ba to như cái gối ôm
- Ừ tay ba to để bảo vệ con



- Ba, ba có sợ ma không ba
- Làm gì có ma, người ta tưởng tượng ra thôi con à
- Lỡ nếu có ma thiệt thì ba có sợ không
- Ba chẳng sợ gì trên đời này hết
- Sao hôm bữa ba nói là ba sợ nguy hiểm
- Ừ ba chỉ sợ nguy hiểm cho con thôi, cái gì nguy hiểm cho con thì ba sợ
- Vậy ma có nguy hiểm cho con không
- Ma cỏ gì, ba vặt đầu tụi nó hết, ngủ đi con
- Vậy yên tâm rồi



- Ba, con vẫn sợ
- Con sợ gì
- Con sợ ăn trộm
- Nhà mình có gì đâu mà sợ trộm, trộm nó chỉ vô nhà giàu thôi
- Nhà mình giàu mà ba
- Giàu gì, ba chỉ có hai cục vàng bự, một cục ba giữ, một cục mẹ giữ
- Là Hà Thi và Hà Văn chứ giề
- Đúng rùi, ngủ đi con



- Rủi trộm nó cứ vô thì sao
- Thì ba quăng nó xuống lầu cho chết mịa nó luôn
- ha ha



- Ba, có phải ba khỏe nhất thế giới không ba
- Đúng rùi, ba khỏe nhất thế giới đó
- Sao ba bịnh hoài không khỏi
- Bịnh vặt mà, mai ba khỏi
- Mai mấy giờ ba khỏi
- Sáng mai khỏi liền
- Vậy tối mai chơi trò “vú lạnh” hén ba
- Ừ mai chơi

(Trò “vú lạnh” là trò cắt hai miếng vỏ bưởi lớn rồi bỏ vô ngăn đá tủ lạnh, sau đó áp lên ngực trần của ba làm “vú lạnh”, rồi ba phải rú lên vì lạnh cho con cười ngặt nghẽo. Chơi kỳ vậy đó)

Vương Huy - Thơ ngày về

Như đã trả lời bác Năm Xu trong bài này, tôi tuyệt nhiên không ngưỡng mộ nhà thơ nào, tôi chỉ ngưỡng mộ thơ, một câu thôi cũng được, của ai cũng được.

Nhưng nếu phải bình chọn một nhà thơ Việt Nam của thế hệ chúng tôi, nghĩa là dưới 40 tuổi, theo đúng và đủ nghĩa nhất của danh từ này, tôi sẽ chọn Vương Huy.

Ít người đọc biết đến Huy. Huy chỉ được biết và đánh giá cao trong giới làm thơ. Tôi không thích bình thơ hay nói về thơ, vì thơ là thứ để đọc, để cảm nhận chứ không phải để bàn, nhưng để cho khách quan, tôi xin trích một bài viết về Huy và thơ Huy ở đâyở đây nữa.

Đó là những ngày đầu năm 1993, lúc đó vào một buổi chiều, tôi đang ngồi ở cái bàn quen thuộc trong quán Ngọc, một quán café tồi tàn nhưng café rất ngon, nhạc rất hay và có em chủ quán rất vui, thì Huy bước vào, đến thẳng bàn tôi và hỏi: “Có phải Đàm Hà Phú chăng?”.

Thế là buổi chiều hôm ấy kết thúc bằng một bữa rượu tàn đêm, chúng tôi nói về thơ ca, về hiện sinh, về đủ thứ lớn lao mà một người trẻ có thể nghĩ tới. Chúng tôi không giống nhau, ngay cả việc làm thơ cũng hoàn toàn khác biệt. Huy viết thơ rất khó khăn, đau đáu chứ không dễ dãi, trau chuốt như tôi. Mỗi bài thơ viết ra, đối với Huy, không khác gì một ca sinh nở.

Hình ảnh còn đọng trong trí nhớ tôi là một Vương Huy dỏng cao, gầy guộc với những ngón tay dài ám màu khói thuốc, nụ cười hiền lành, buồn bã. Huy chính xác là nhà thơ, là người sống trong thơ và sống bằng thơ.

Chúng tôi đã sống với nhau gần ba năm ở KTX. Ba năm, mỗi ngày chúng tôi cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm thơ, cùng uống rượu, cùng đi đái…nhưng tôi không hiểu được Huy. Có nhiều thứ, nhiều kỷ niệm để nói về Huy, về thời chúng tôi sống với nhau, nhưng vì không hiểu được Huy nên có lẽ xin để dành để nói ở một entry khác vậy.

Ở đây tôi xin trích bài thơ này, bài thơ Huy viết trong thời chúng tôi sống với nhau, bài thơ duy nhất mà tôi rất thích và thuộc lòng, dù tôi là kẻ không bao giờ thuộc lòng bài thơ nào, kể cả thơ mình.

Thơ Ngày Về

Những tàn tro của một thời vong tưởng
Gió xuân thì mãi cuốn đến hôm nay
Mẩu quá khứ bay trong mùa lầm lỡ
Làm cơn mưa giăng kín góc tim gầy

Ta trở về men lối cũ hoa bay
Nhặt dấu chân của loài người rơi vãi
Buông dấu chấm xuống trang đời con gái
Em trở thành nỗi nhớ tuổi thơ tôi

Cây đa nào mà chẳng đứng mồ côi
Dù bến nước có trải lòng đón lá
Như trang giấy đón từng câu thơ rơi lả
Biếc xanh gì cho khỏi đáy trầm luân

Bao ước mơ xinh xắn trứng thạch sùng
Chỉ khoảnh khắc vừa chạm va mặt đất
Nghìn nâng niu cũng một lần vụn nát
Chậc lưỡi làm tên gõ nhịp thời gian

Bão tạnh rồi
cầu gãy
nước mênh mang
Dòng bồi lở không cành hồng nào ngã
Ngắt cọng cỏ mà nghe đời buồn lạ
Mỏi chân vì những chuyện quá vu vơ

Bế nỗi buồn trao ngày tháng đong đưa
Ngồi trên lá nghe cành khô trở biếc
Trong giấc mơ có nghìn con bướm chết
Triệu cánh tàn lả tả mái hiên hoa.


Vương Huy

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2010

Thơ Bút Tre

Đầu năm, cười mỉm chi, cười duyên, cười nhạt, cười ý nhị, cười ruồi... với vài câu thơ Bút Tre cho nó trẻ người nhé các bác.

Quê Hương thi sĩ Phú Thò
Chè xanh, cọ biếc, mập to trái chuồi (chuối)
Lòng còn nhớ mãi cái buồi (buổi)
Nàng làm phân bắc, anh nuôi đàn bò
Cu Ba lông mượt giống to
con nào con nấy vú to sữa nhiều…

Đi xa mới thấy nhớ Hà
Nội đang thu, nhớ quả cà, miếng dưa

Chợ Ðồng Xuân có tiếng đồn
Có chị bán trứng vịt lộn rất to

Anh đi công tác bản Muờng
Tè xong một cái lên đường về quê

Bắc Ninh có cậu Nguyễn-Trùng-
-Dương, vật khỏe quá cả vùng thất kinh

Hoan hô đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta thắng trân Điện Biên trở về
Hoan hô anh Tạ Đình Đề
Trước là gián điệp nay về với ta
Hoan hô anh Lê Quảng Ba
Trước đi theo Phỉ nay ra hàng mình
Hoan hô chị Nguyễn Thị Bình
Được ngồi cùng với ông Chinh ông Đồng
Hoan hô anh Nguyễn Chí Công
Cho làm khoán hộ ruộng đồng tốt tươi
Hoan hô bộ trưởng Đỗ Mười
Phụ trách xây dựng mọi người đều khen

Sông Hổng đỏ quạch phù sa
Đỏ thì đỏ thật thua da Bác Hồ

Ngày xưa cụ Mác cụ Lê
Hai cụ đều giỏi chẳng chê cụ nào
Hoan Hô đồng chí Hà Đăng
Ấn cho tàu chạy băng băng như rùa.

Hoan hô đồng chí Hagi
Cách ba mươi mét mà ghi được bàn

Hoan hô đồng chí Phạm Tuân
Bay vào vũ trụ một tuần về ngay

Khoa học thời đại lên cao
Anh Ga Ga Rỉn bay vào vũ tru (trụ)

Chưa đi chưa biết Cửa Lò
Ði về mới biết nó to thế này

Mấy em mặc váy đánh cầu
lông bay phấp phới trên đầu các anh

Phụ nữ thường rất hay lươi (lười)
Riêng em anh thấy là người cần... cu.( cần cù)

Những ai bị yếu sinh lỳ
Ở đây đã có thuốc trì rất hay
Thầy này học ở bên Tây
Nguyên về khoản ấy là tay cực giòi (giỏi)

Không đi không biết Tam Ðao (Tam Ðảo)
Ði thì không biết chỗ nào mà ngu (ngủ)
Một giường nó nhét hai cu (cụ)
Sướng khô cố nhịn đến chu nhật về... (sướng khổ)

Trèo cao cao tháp Áp-phen
Mà sao không mệt bằng lên Háng Đào (Hàng Đào)

Thích nhất là chén phô-mai
Giống như vừa ỉa vừa nhai xà phòng

Tình hình là rất tình hình
Cho nên ta phải đi trình cấp trên
Cấp trên có tính hay quên
Cho nên ta phải nắm thêm tình hình

Thi đua ta quyết thi đua
Thi đua ta quyết tiến lên hàng đầu
Hàng đầu rồi biết đi đâu
Đi đâu không biết hàng đầu cứ đi

Chưa đi chưa biết Quảng Ninh
Đi rồi mới biết cửa mình mở ra
Hàng gần cho tới hàng xa
Muốn mà xuất được phải qua cửa mình
Hàng thô cho đến hàng tinh
Cứ qua cửa mình là xuất băng băng

Hoan hô anh La Văn Cầu
Cánh tay bị đứt nhưng đầu vẫn nguyên

Ta đi bầu cử tự do
Chọn người xứng đáng mà cho vào hòm

Anh đi công tác đảo Côn-
Lôn em nhớ quá bồn chồn không yên

Chưa đi chưa biết Đồ Sơn
Đi rồi mới biết không hơn đồ nhà
Đồ nhà bằng cái lá đa,
Đồ Sơn bằng cái bàn là Liên Xô…

Con ruồi là vật hiểm nguy
Hai chân của nó rất vi trùng nhiều

Bà con toàn thể xã ta
đồng tâm phấn khởi giồng cà dái dê
Dái dê to mập dài ghê
Năm sau ta cứ dái dê ta trồng

Chưa đi chưa biết Vũng Tàu
Đi rùi mới biết phê hơn vũng nhà
Vũng nhà khoan mãi chẳng ra
Vũng Tàu khoan cái dầu ra ầm ầm....

Hôm qua học tập chính tri
Cán bộ ngồi ỳ, chẳng chịu phát biêu
Cơm ăn chẳng được bao nhiêu
Đảng uỷ lại bắt phát biêu cả buồi

(Chôm từ anh Việt Hòa)

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2010

Dầu Hào và Thơ Trẻ

Bắt chước nhà NămXu, gom hai ba chuyện nói một lần.

Gần đây, hầu như nấu món gì tôi cũng nêm dầu hào.

Trước hết xin giới thiệu sơ về dầu hào để quí vị ít vào bếp được rõ: “Dầu hào là loại nước chấm hơi sệt màu nâu sẫm được dùng trong các món ăn Trung Hoa (đặc biệt là món Quảng Đông), Philippines và Thái Lan. Nó được chiết xuất từ con hào (hàu), muối, bột ngọt (mì chính). Dầu hào được sáng chế năm 1888 bởi ông Lý Cẩm Thường (Lee Kam Sheung), một người Quảng Đông, Trung Hoa. Sau này, ông Lý lập công ty Lee Kum Kee chuyên sản xuất gia vị, chủ yếu là dầu hào”. Đại khái thế, coi trên mạng không biết có đúng không nữa.

Dầu Hào hiện nay trên thị trường có nhiều hãng chế biến, nhưng nếu ngon thì có thể mua chai thủy tinh của Hồng Công đúng hãng của ông Lý nói trên là ngon nhất, còn nếu không thì hàng Mã Lai cũng chơi được. Hàng Việt Nam có hiệu Magi, ăn nhạt và ít thơm hơn.

Về việc nêm dầu hào vào thức ăn, thực ra tôi đã có bàn trong bài: bàn về làm thơ và nấu ăn, nhưng nay muốn nói thêm chút đỉnh. Số là tôi đã có công nghiên cứu và so sánh giữa việc có dùng dầu hào và không dùng dầu hào trong nấu ăn và rút ra kết luận chắc chắn rằng: việc dùng dầu hào sẽ cho món ăn ngon hơn, thơm hơn và hấp dẫn hơn.

Vậy dùng dầu hào như thế nào? Trong các công thức nấu ăn có chỉ định dùng dầu hào thì không cần bàn, còn tôi, tôi dụng tùy tiện và theo khẩu vị cá nhân nên không dám đưa ra công thức cụ thể, nhưng có thể kể ra một số cách như sau:

- Dùng ướp thịt, cá, gà trước khi nướng, kho, ram, chiên, xào. Chú ý là nếu dùng dầu hào thì phải bớt muối (hoặc mắm) lại vì dầu hào đã có vị mặn sẵn rồi.
- Dùng nêm trực tiếp trong các món xào: như rau xào, mì xào, cơm chiên…dầu hào thực ra không có dầu nhưng lại có tác dụng tạo độ bóng, vị thơm cho các món xào.
- Và cuối cùng, là cách chế biến dầu dào để chấm các món rau luộc (đặc biệt là cải thìa, cải ngọt, súp lơ…). Rau luộc vừa chín bày ra dĩa. Dùng chảo nhỏ cho dầu hào vào, nhiều hay ít tùy nghi, đợi dầu sôi cho thêm chút nước, ½ muỗng mắm ngon, một ít tỏi, ớt băm nhuyễn. Dùng đũa khấy tròn cho tỏi ớt vừa chín thì rưới trực tiếp vào dĩa rau luộc, rưới vòng tròn, rưới ngang, rưới dọc gì cũng được.


Mượn cái hình bên nhà chị Kiki nhé.

Còn tôi, tôi nấu mì gói cũng có dầu hào, chiên trứng cũng có dầu hào, thậm chí làm một tô cháo ăn liền tôi cũng cho chút dầu hào. Ngon hơn hẳn.

Bây giờ bàn về thơ trẻ.

Có một thời tôi bỏ không gửi thơ đăng báo nữa, và dĩ nhiên là tôi tự đánh mất cái tên Đàm Hà Phú đang còn kiếm nhuận bút rất khá của mình.

Tại sao vậy. Tại vì lúc ấy tôi đã ba mươi tuổi nhưng lúc nào cũng bị xếp vào: Thơ trẻ, nhà thơ trẻ. Tôi thấy chuyện này nó vớ vẩn đến lạ lùng mà chắc chỉ có ở Việt Nam mới có. Mà không chỉ riêng thơ, nhiều thứ khác nữa: Doanh nghiệp trẻ, nhà nông trẻ, kiến trúc sư trẻ…Tại sao lại phân biệt trẻ? Và bao nhiêu tuổi thì còn được xếp vào hạng trẻ? Và trẻ thì có khác gì?

Gần đây, tôi được tặng 2 tập thơ: Một là tập thơ Mắt Giấy của Nguyệt Phạm (Vợ Nguyễn Hữu Hồng Minh) và một tâp thơ do một người đọc blog mình gửi tặng, tập thơ Tản Mạn của Võ Thị Như Mai (Cảm ơn bạn Sông nhé)

Tập thơ Mắt Giấy đời hơn, cá tính hơn, mới hơn và dữ dội hơn, những câu thơ như vụt vào người đọc một cảm giác rất nhột nhạt, cay cú, khó chia sẻ.

Tập thơ Tản Mạn mềm mại hơn, thơ hơn, với nhiều bài đẹp, nhiều câu thơ đẹp, nhiều ý thơ đẹp, nhiều hình ảnh đẹp, nhiều suy nghĩ đẹp…hơn, nhưng vẫn mang nét ngây thơ, trong trẻo trong cách diễn đạt quá, làm cho những bài thơ chưa đủ mạnh về cảm xúc.

Cả hai nhà thơ, chắc chắn được xếp vào hàng thơ trẻ, thơ nữ trẻ hay một cái gì đó rất …trẻ. Theo tôi, cả hai tập thơ đều khá hay, đều để lại ấn tượng riêng. Nhưng có lẽ, cả hai đều thiếu một thứ, một thứ tương tự như dầu hào trong thơ.

Một thứ có thể dung hòa được cái tôi của người làm thơ và cái cảm nhận của người đọc thơ, một thứ làm thõa mãn cả hai. Một thứ tưởng chừng như không quan trọng, thường ít xuất hiện trong công thức hay trong những cuộc luận bàn về xu hướng sáng tác.

Tôi không biết cụ thể cái thứ tương tự như dầu hào trong thơ là thứ gì và cần phải dùng nó như thế nào trong một bài thơ. Nhưng tôi một lần nữa chắc chắn rằng làm thơ rất giống với nấu ăn, mà khi nấu ăn ta cần cho ra đời một món ăn ngon hơn, thơm hơn, hấp dẫn hơn, sáng tạo hơn để nhiều người cùng thưởng thức và cùng chia sẻ.

Thơ Trẻ, có lẽ còn mãi bị gọi là Thơ Trẻ nếu còn thiếu cái thứ tương tự như dầu hào trong thơ này. Để tôi thử viết một số bài thơ mới, những bài thơ của những năm 40 tuổi, xem có khác biệt gì không, có còn là Thơ Trẻ nữa không nhé.

Thứ Hai, 22 tháng 2, 2010

Linh tinh Tết

1.
Đầu năm mới Canh Dần, xin chúc quí vị bằng hữu blogers gần xa một năm thật nhiều may mắn và niềm vui. Từ lúc Đào, Mai nở ràn rụa trên phố và những bản nhạc xuân được mở khắp mọi nhà thì tôi đã không còn thời gian cho mình nữa. Blog cũng nghỉ Tết, thi thoảng cũng mở điện thoại lên xem blog nhưng chậm quá nên thôi.

2.
29 Tết, sau khi gọi điện đến khách hàng cuối cùng, thương lượng với nhà cung cấp cuối cùng, trả lương thưởng cho người công nhân cuối cùng…tôi cầm về nhà đúng năm triệu bạc (chỉ tương đương một công nhân bình thường trong công ty tôi) và bắt đầu sắm sửa Tết cho gia đình. Ai bảo thích làm chủ, ai bảo thích kinh doanh, ai bảo thích lập nghiệp…híc.

3.
Sáng mồng một chở vợ con về quê ngoại Cần Thơ ăn tết. Đường cao tốc đi miền tây làm thật đẹp, chất lượng rất cao, mặt đường không một vết gờ, đạp 130~140km/h mà thấy vẫn bình thường, lần đầu tiên được chạy tốc độ cao thế, sướng tê giò. Từ mồng một đến hết mồng năm thì lúc say nhiều hơn lúc tỉnh, Tết ở quê vui vậy.

4.
Hôm nay đi làm lại. Chỉ nói ngắn gọn trong một chữ: Oải

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2010

Những kẻ hạnh phúc

Chân dung vài nhân vật hạnh phúc vào loại bậc nhất thế giới ở nhiều lứa tuổi hiện đang sống ở Sài Gòn.


Anh này bán đĩa nhạc, xe bán đĩa của anh có trang bị dàn âm thanh xịn để mở cho phố phường cùng nghe, mở nhỏ nhỏ chứ cũng không phiền gì. Sáng nào anh cũng ghé vào một quán cóc, kêu ly cafe và vài điếu thuốc, mở một vài đĩa nhạc hay rồi ngồi ngất ngưỡng tới trưa. Hỏi: sao không đi bán? Chiều bán cũng đủ ăn, sáng đẹp trời nghe nhạc uống cafe hút thuốc cho nó sướng. Sáng nào cũng thế.


Cụ này đã 75 tuổi. Suốt 35 năm nay chỉ làm nghề sửa quẹt và bơm gas. Cụ nói nghề này ở SG (mà hình như trên thế giới) chỉ còn 2 người làm. Cụ và một cụ bạn ở chợ Bến Thành vì cái quẹt gas giờ có 1.500đ mà ai thèm đi bơm gas chi nữa. Làm chơi cho vui, chủ yếu lang thang phố xá, chiều về làm xị rượu, đi ngủ cho nó khỏe người. Hai con trai đã lớn, cháu nội 3 đứa. Ngày kiếm 20,000 là vui rồi. Chết thì đem cái nghề này theo luôn. Cười như nghé


Ku này rất hứng tình, sáng nào cũng xách bô ra hè phố làm một đận rồi ăn học gì tính sau. Mà hình như phải ngồi ngay ngoài đường ku này mới vui, ngồi trong nhà là không xong với ku đâu. Khoái thế không biết.

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2010

Vậy là cuối cùng

Vậy là cuối cùng dòng sông cũng chảy về phía khác, phía những suy tư không có chỗ nằm, anh quị ngã dưới bóng cành rời rạc, chết trên đồi đôi mắt vẫn xa xăm. Chết trên những nẻo dài của tháng năm, trên con dốc hoa tường vi nở ngặt. Chết trên cánh đồng sau bộn bề mùa gặt, khói rạ bay lên cùng với mấy nỗi buồn…

Vậy là cuối cùng cỏ mọc trên ngực anh, bọn cỏ xanh hoang đàng mất dạy, anh nằm chết cong queo như dấu phẩy, và bình yên ba chấm cũng viên tròn. Trên bầu trời những câu thơ bay dáo dác, dáo dác tìm anh dáo dác tìm tình yêu, những câu chữ này sẽ không ai thừa nhận, sẽ từ nay hết được nuông chiều.

Vậy là cuối cùng mặt trời mọc mà không có anh, không có anh thì nắng lấy gì ấm áp, không có anh thì gió lấy gì khoáng đạt, và mây nữa, có thể nào là mây xanh. Anh nằm xuống rồi thì mưa đâu biết khóc, những tàn cây sẽ xích mích với nhau, những chiếc lá rơi xuống mặt đường cô độc trong một đêm sương giá bỗng lạnh lùng.

Vậy là cuối cùng rồi hoa cũng tàn, không có anh thì hoa tàn hơi tội nghiệp, rồi ai sẽ làm thơ tặng Mười Giờ vào buổi chiều cánh thiếp để mùa xuân thiên hạ lại ngắm nhìn. Rồi một ngày bọn giun dế bò qua tai anh và làm tình trong ngực anh, chỗ ấm cúng để sinh con đẻ cái. Anh bỏ mặc phố phường trôi dầm dãi nằm xuôi tay cho sóng vỗ quanh mình.

Vậy là cuối cùng cũng khăn gói ra đi. Chờ chút nữa cho anh hút tàn điếu thuốc, chờ chút nữa anh rót hết ly rượu này vào ngực, cho anh làm nốt bài thơ cho anh khóc nốt nỗi buồn. Chờ chút nữa, xin chờ anh chút nữa…

Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2010

Người khách tháng giêng

Người khách tháng giêng

Thoáng vườn hoa trái giêng hai
Quán một mình với những hoài ức xưa
Anh dong tay chờ mùa
Gọi thời gian tính tiền một vòng trái đất
Kẻ phiêu du cuối cùng cũng thành tất bật
Chỉ còn anh
Ngồi nhâm nhi tháng giêng

Em bay đi trên đôi cánh muộn phiền
Dự báo bất an cho nụ hôn
Anh trầm ngâm tập hát lời sóng nổi
Hỏi thuê linh hồn đám mây đang tìm về núi
Chở che đời chút thánh thiện đầu năm

Quán một mình anh gọi một dòng sông
Uống cho anh và uống cho bè bạn
Cho những ngược xuôi đường đời gió nắng
Khát cháy một bóng thuyền một đám rong trôi

Thoáng vườn hoa trái xanh ngời
Quán một mình với những lời bóng câu
Không thương thì đã ví dầu
Bằng thương một chén cùng nhau cũng tình…


Bản có chỉnh sửa.
Đăng Tuổi Trẻ Xuân hay Tân Niên gì đó năm 98

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2010

Cuộc hành trình tìm tự do và hạnh phúc

Cho Mẹ,


Ngày như một con chim ra ràng vỗ đôi cánh khỏe mạnh bay về phía mặt trời, tôi không quay đầu nhìn mẹ, trong mắt tôi bầu trời phía trước là tự do, là hạnh phúc. Mười tám năm dưới mái nhà của mẹ, trong vòng tay yêu thương của mẹ, vậy mà vung đôi cánh bay lên không một chút luyến lưu, sau lưng tôi, đôi mắt mẹ đẫm nước, đầy những giọt lo âu, bất lực và không một chút ánh sáng của hy vọng, mẹ nghĩ mình đã mất con…


Vừa ra đời thì mẹ chết, mẹ chết khi sinh thường báo hiệu một điềm xấu nhất của đời người. Một đứa con còn đỏ hỏn đã bắt đầu cuộc sống mẹ ghẻ, con chồng trong dân gian thường nói, ấy là mẹ tôi. Nằm trên lò than trong trời lạnh không người coi, khóc giật mình và rớt bàn chân xuống lò than…bàn chân mẹ cháy đen, quăn queo, nát bấy, dị tật luôn từ đó. Từ những lúc còn đỏ hỏn ấy, trời đã ban cho sinh linh kia một số phận nghiệt ngã đến vô cùng, đôi lúc chính mẹ, một người tưởng là rất nghị lực, cũng phải khóc thương cho chính số phận của mình. Số phận được quyết định từ bàn chân cháy nát, ngắn củn, làm cho cái dáng đi của mẹ trở nên tất tả, khắc khoải hơn người.

Năm, sáu tuổi đầu đã bắt đầu cuốc sống nô lệ, bị bán thân đi làm con ở nơi xứ người. Mẹ sống một tuổi thơ trong đòn roi, nước mắt, trong cái lạnh cắt da, trong cái nắng đổ lửa của cái xứ miền trung mà đối với đất trời cũng là nơi trút những hờn giận vô cớ.

Tuổi thơ cùng cực nên phải bám lấy ngôi trường huyện cách đó mấy cây số, hằng ngày dậy từ bốn giờ sáng lặn lội qua mấy quãng đồng trong cái lạnh thấu xương, tha về ít con chữ, vài phép toán ngõ hầu mong thoát đời nghèo khó, mẹ đã nuôi một ý chí quật cường, mà chính từ nó đã di truyền qua tôi, trở thành một kẻ liều lĩnh như bây giờ.

Rồi cũng học lên đến đại học, cũng đi làm và những tưởng thoát khỏi cuộc đời cơ cực thì lại bắt đầu một cuộc sống khác, cuộc sống dưới chiến tranh, cuộc sống trong thương vong, cuộc sống mà thời gian sống chỉ tính bằng giờ khi máy bay quần trên đầu, bom nổ dưới đất, mẹ một lần nữa đầy nghị lực, bước vào. Rồi tình yêu đối với ba, một thương binh từ miền nam chuyển ra, một con người đại diện cho lòng quả cảm, một chiến binh vì tự do thực thụ. Tình yêu, mà trái ngọt của nó là một đám cưới đơn sơ, nhữ tưởng đã là bờ bến hạnh phúc cho mẹ.

Nhưng sự ra đời của tôi, một kẻ cũng có số phận nối theo cái số phận khắc nghiệt của mẹ, đã là một bước ngoặt khác, của đời mẹ. Mẹ bị sốt rét nặng khi mang thai tôi, bom nổ khi bác sĩ mổ bụng mẹ lôi tôi ra, vị bác sĩ vô tiền khoáng hậu ấy lỡ tay dùng dao mổ chọc luôn vào cổ tôi, một đứa trẻ còn nhớt nhầy vừa chui ra từ bụng mẹ, tất cả cũng đã dự báo một cuộc đời không phẳng lặng cho tôi.

Rồi hòa bình, ba số phận, một gia đình nhỏ nhoi dắt díu vào miền nam theo đoàn quân chiến thắng, dắt díu nhau đi tìm một cuộc sống mới, tốt hơn và đẹp hơn. Nhưng không có, vẫn là cuộc sống ấy. Ba tôi, người chiến binh dũng cảm năm xưa giờ tàn phế, hết thời còng lưng trên chiếc xích lô để mưu sinh và tìm quên đời trong chén rượu. Mẹ sinh em tôi, lại sinh mổ, mổ đến ba lần. Đồng lương nhà nước không nuôi nổi gia đình, mẹ lại vất vả với những mưu sinh thời bao cấp, cái thời mà nhắc lại chúng tôi vẫn thường khóc cho mình, cho đất nước mình.

Mẹ tôi làm đủ thứ: trực đêm, nuôi gà, nuôi thỏ, làm mướn… mẹ nuôi anh em tôi chỉ bằng một tình thương khổng lồ, ngoài thứ đó ra, mọi thứ đều thiếu thốn. Lúc đó mẹ một mình giữ một kho thuốc lớn của một bệnh viện, nhiều người đến nhỏ to, chỉ cần cầm ra vài vỉ thuốc là có một, hai chỉ vàng, là đổi đời…không ai biết, không ai hay…vậy mà mẹ không lấy. Vì mẹ là thần thánh chứ không phải là người. Bạn chiến đấu của ba tôi, ai cũng nhà đất thênh thang, ai cũng làm ông nọ bà kia, vậy mà ba tôi đạp xích lô, vì ba tôi là thần thánh chứ không phải là người. Hai vợ chồng thần thánh nghèo mạt rệp. Bây giờ nghĩ lại, tôi tự hào về điều đó, tôi tự hào vì trong cái nghèo khó đó, cha mẹ đã dành dụm cho tôi một chữ tâm bằng vàng.

Mười tám tuôi, tôi theo bạn bè bay ra khỏi tổ ấm nghèo nàn của mẹ. Tôi đi một vòng quanh đất nước và bắt đầu hiểu mẹ, bắt đầu biết thương mẹ. Tôi đi học, tôi đi làm, tôi kiếm tiền, nhiều tiền để xua đi cái nghèo vẫn bám bíu xung quanh cuộc đời cha mẹ tôi. Tôi nuôi em tôi, tôi sắm sửa nhà cửa, tôi lấy vợ, tôi sinh con…tôi làm điều mà một đứa con trai lớn vẫn làm. Tôi nghĩ mẹ sẽ khác, mẹ sẽ vui, từ nay cuộc đời mẹ sẽ sang trang, sẽ thanh thản.

Nhưng tiền hay cuộc sống đủ đầy không làm mẹ vui hơn, có chăng chỉ là vui cho chúng tôi, cho con tôi mà thôi. Mẹ trở thành một người bà, vẫn vất vả sớm hôm, hết cơm nước, chợ búa rồi đến chăm cháu, chăm ông…mẹ trở thành người đi ở trong chính ngôi nhà của mình. Chúng tôi vô tư hưởng thụ điều đó, chúng tôi biết ơn mẹ một cách hình thức. Nhiều lúc không muốn cho mẹ làm nhưng không được, vì mẹ là thế. Phải là chính mẹ nấu bữa ăn cho chúng tôi, phải là chính mẹ dọn ra và phải là chính mẹ ngồi nhìn chúng tôi ăn. Bữa ăn, đôi khi rất ngon, đôi khi cũng ngán, nhưng tôi vẫn ăn, vì không ăn, hoặc ăn ít sẽ làm mẹ buồn.

Mẹ trở thành một người bà, và cháu của bà thì phải được bà chăm, bà chăm từng tí từng li, từng bữa ăn, giấc ngủ, từng lúc ốm đau, từng trang sách vở…cứ thế, chúng tôi ngốn hết thời gian của mẹ, sức lực của mẹ…

Vợ tôi mua nhiều quần áo đẹp, mua nhiều nữ trang, mua nhiều túi xách cho mẹ…những thứ đó mẹ cũng toàn cất trong tủ, mẹ vẫn một bộ đồ bạc màu ấy, vẫn dáng đi tất tả ấy, mẹ đã quen rồi, không khác được nữa.

Đôi mắt mẹ vẫn đầy lo âu khi thấy tôi vất vả với công việc của mình. Mẹ vẫn khóc khi thấy tôi về nhà say khướt. Mẹ vẫn buồn vì tôi chưa chịu bỏ thuốc. Mẹ chưa thể hạnh phúc khi chúng tôi chưa hạnh phúc như mong muốn của mẹ, những mong muốn về tôi mà tôi đã từng tự cho là tự do khi thoát khỏi nó năm mười tám tuôi.

Mẹ là thế. Những người mẹ là thế.

Tôi đã sống cuộc đời của mình và cho mình, tôi đã từng coi tự do là tất cả. Bây giờ thì tôi hối hận, và càng suy nghĩ về những lỗi lầm của mình, những suy nghĩ ích kỷ của mình, tôi càng buồn. Bây giờ tự do là gì nếu không có mẹ.

Năm nay mẹ tôi đã già, bà mắc bịnh huyết áp, tim, thấp khớp, viêm tắc tĩnh mạch hai chân…nói chung cuộc sống của bà không còn dài nữa. Tôi chợt nhận ra nếu một ngày tôi tự do thực thụ, một ngày mẹ bỏ tôi đi. Nước mắt tôi chảy dài. Tôi lo lắng, tôi buồn. Tôi nghĩ tới những lần tôi nạt mẹ, những lần tôi chê cơm mẹ, những lần tôi say mèm trong tay mẹ…tôi nghĩ tôi càng trách mình nhiều.

Tôi biết nhiều bạn trẻ đọc blog của mình, nên tôi viết thực lòng, để các bạn biết, sau gần hai mươi năm bay ra khỏi vòng tay mẹ để đi tìm tự do và hạnh phúc, tôi đã tìm thấy tự do và hạnh phúc trong ngôi nhà của mẹ, trong vòng tay của mẹ.

Câu hỏi bây giờ là: Nếu một ngày mẹ bỏ tôi đi…

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2010

Nhảm cực ngắn

“Nếu chỉ còn một ngày để sống, bạn sẽ làm gì?”

Có lẽ do lo lắng và suy nghĩ quá mức, tự nhiên tôi thấy mình mệt mỏi và chán chường. Tôi vô thức gõ vào google một dòng: “nếu chỉ còn một ngày để sống, bạn sẽ làm gì?” Vậy là tôi được dẫn đến cả trăm topic liên quan đến chủ đề này.

Hầu hết các ý kiến đều na ná nhau, nói chung mọi người thường nói những điều tốt đẹp về tình yêu thương, lòng hiếu thảo, về sự hối hận, về hy sinh…nói những lời tốt đẹp cho gia đình, cho cha mẹ, cho vợ, chồng, cho bạn bè…muốn dành thời gian bên người thân, bên con cái…muốn làm những việc mà xưa nay chưa làm, muốn ăn những bữa ăn ngon, muốn hát, muốn chơi…nói chung ý nguyện nào cũng hay và đẹp.

Vậy “nếu chỉ còn một ngày để sống, bạn sẽ làm gì?”.


Còn tôi, tôi tự hỏi mình rằng: sao mình không làm tất cả những điều tốt đẹp đó, nói tất cả những lời yêu thương đó… vào hôm nay, vào mỗi ngày trong đời…

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2010

Mấy thứ vớ vẩn

(Lụm trên Internet lâu rồi, giờ chuẩn bị dọn ổ cứng nên đem lên để đây, ai ghé chơi có thứ mà đọc, bận quá không viết được gì)

Nếu Không Có Tình Yêu

Ngày ấy, tôi dạy mẫu giáo tại một ngôi trường nhỏ nằm gọn trong khuôn viên của một tòa nhà ba tầng xinh đẹp . Mỗi sáng, cứ đúng 9 giờ , tất cả học sinh lại tụ tập trong căn phòng lớn , bắt đầu một ngày mới bằng bài thể dục đầu giờ . Hơn 50 đứa trẻ , 3 đến 6 tuổi , ngồi san sát trên những chiếc ghế xinh xinh đủ màu đặt trên tấm thảm dày . Những gương mặt thơ ngây bừng sáng khi chúng háo hức hát vang những bài ca , cùng chia sẻ cho nhau về mọi điều tốt đẹp trong cuộc sống ...
Một buổi sáng , cô hiệu trưởng gặp toàn thể học sinh trong căn phòng lớn và thông báo :" Hôm nay chúng ta sẽ tiến hành một thí nghiệm mới". Cô giơ cao hai cây thường xuân bé xíu đựng trong hai cái chậu con giống hệt nhau . " Chúng ta có hai cây con trông chúng giống hệt nhau đúng không? " . Tất cả bọn trẻ , tò mò nhìn vào hai chậu cây , đồng thanh đáp :" Dạ phải ".
" Chúng ta sẽ nuôi dưỡng hai cây con này với cùng chế độ ánh sáng , cùng chế độ tưới nước , nhưng ...với sự chăm sóc khác nhau ". Cô nói tiếp :" Chúng ta sẽ theo dõi xem, điều gì sẽ xãy ra khi đặt một cây trong nhà bếp , cách xa chúng ta , một cây ngay tại đây , trong phòng này , trên lò sưởi ".
Sau khi đặt một chậu trên mép lò sưởi , cô hiệu trưởng dắt bọn trẻ vào bếp , đặt chậu cây còn lại lên quầy . Sau đó cô dẫn những đứa trẻ với những đôi mắt mở to vì bỡ ngỡ trở lại căn phòng lớn .
"Chúng ta sẽ đối xử với cây như với một người bạn . Trong vài tháng tới , mỗi ngày chúng ta sẽ hát cho cây thường xuân nghe . Chúng ta sẽ nói cho bạn ấy biết bạn ấy xinh đẹp như thế nào và chúng ta yêu quí bạn ấy biết bao . Chúng ta luôn chúc bạn ấy mọi điều tốt đẹp ..." Một bé gái giơ tay :" Nhưng thưa cô , thế còn cái cây trong bếp thì sao ?". Cô hiệu trưởng mỉm cười thích thú " Chúng ta sẽ dùng cây ấy làm cây 'đối chứng' trong thí nghiệm tuyệt vời của chúng ta . Theo các em chúng ta phải làm gì ?"
" Chúng ta sẽ không nói chuyện với nó ?"
" Đúng , dù chỉ một lời thì thầm ".
" Chúng ta sẽ không gởi cho nó lời chúc tồt đẹp nào ".
" Đúng , và chúng ta xem chuyện gì sẽ xãy ra.."
Bốn tuần sau mắt của tôi cũng mở to ngạc nhiên như bọn trẻ . Cây thường xuân trong bếp yếu ớt , mảnh khảnh và chẳng lớn được tí nào . Còn chậu cây đặt trong phòng lớn , được bao bọc bởi những lời yêu thương êm dịu , được bọn trẻ hát cho nghe mỗi ngày , đã lớn gấp ba với những chiếc lá xanh biếc tràn đầy nhựa sống ...Để chứng minh kết quả của cuộc thí nghiệm và cũng để lau khô nước mắt của những đứa trẻ nhạy cảm , lo lắng cho số phận của cây thường xuân kia , cô hiệu trưởng giải thoát cho cảnh lẻ loi của chậu cây thứ hai trong bếp và mang đặt nó trong phòng lớn , bên cạnh chậu thứ nhất .
Ba tuần sau , chậu cây thứ hai đã bắt kịp chậu cây thứ nhất . Bốn tuần sau , chúng cùng lớn mạnh như nhau ...Tôi ghi nhớ mãi bài học này và tự đúc kết cho mình một câu kết luận : Không ai , không vật gì lớn lên được nếu không có tình yêu...

Tiếng nói của cuộc sống

Xin chào! Tôi là cuộc sống đây. Hôm nay tôi sẽ cố giải quyết mọi vấn đề bạn đang gặp phải để bạn đừng than trách tôi nữa…
Nếu bạn bị tắc đường và kẹt xe, đừng thất vọng. Còn rất nhiều người trên thế giới này, mà đối với họ, lái xe là một niềm mơ ước không thể thực hiện .
Nếu bạn cảm thấy học hành thật chán ngán. Hãy nghĩ đến người đã hàng năm trời rồi không được đi học.
Nếu bạn thất vọng vì một chuyện tình cảm đang đến hồi tan vỡ. Hãy nghĩ đến người chưa bao giờ biết yêu thương và được yêu thương là như thế nào.
Nếu bạn buồn vì một cuối tuần nữa lại sắp trôi qua. Hãy nghĩ đến những người phụ nữ ở môi trường làm việc khắc nghiệt, phải làm việc 12 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần để nuôi con.
Nếu bạn cảm thấy mất mát và tự hỏi mình cuộc sống là gì và có mục đích gì. Hãy nghĩ đến những người bệnh tật, biết trước mình không còn sống được bao lâu nữa, và không còn cơ hội để tự hỏi mình nữa.
Nếu bạn cảm thấy khủng khiếp khi là nạn nhân của những trò đùa, những sự nhỏ mọn… của người khác. Hãy nhớ: Thế nhưng vẫn chưa là gì đâu, vì tồi tệ hơn nữa là khi: bạn có thể là chính những người đó!

Cà Phê Muối

Chàng trai gặp cô gái ở một buổi tiệc. Cô rất xinh đẹp, quyến rũ và đến hơn nửa số người trong buổi tiệc đều để ý đến cô. Trong khi chàng trai chỉ là một người rất bình thường, không ai buồn nhìn tới. Cuối cùng, khi buổi tiệc gần kết thúc, chàng trai ngượng ngịu mời cô gái uống cà phê với mình. Cô gái rất ngạc nhiên, nhưng vì lời mời quá lịch sự nên cô đồng ý.
Họ ngồi ở một chiếc bàn nhỏ trong góc phòng tiệc, nhưng chàng trai quá lo lắng, mãi không nói được lời nào, làm cho cô gái cũng cảm thấy bất tiện. Bỗng nhiên, chàng trai gọi người phục vụ:
- Xin cho tôi ít muối để tôi cho vào cà phê!
Mọi người xung quanh đều hết sức ngạc nhiên và nhìn chăm chăm vào chàng trai! Chàng trai đỏ mặt, nhưng vẫn múc một thìa muối cho vào cốc cà phê và uống.
Cô gái tò mò:
- Sao anh có sở thích kỳ quặc thế?
- Khi tôi còn nhỏ, tôi sống gần biển - Chàng trai giải thích - Khi chơi ở biển, tôi có thể cảm thấy vị mặn của nước, giống như cà phê cho muối vào vậy! Nên bây giờ, mỗi khi tôi uống cà phê với muối, tôi lại nhớ tới tuổi thơ và quê hương của mình.
Cô gái thực sự cảm động. Một người đàn ông yêu nơi mình sinh ra thì chắc chắn sẽ yêu gia đình và có trách nhiệm với gia đình của mình. Nên cô gái cởi mở hơn, về nơi cô sinh ra, về gia đình... Trước khi ra về, họ hẹn nhau một buổi gặp tiếp theo...
Qua những lần gặp gỡ, cô gái thấy chàng trai quả là một người lý tưởng: rất tốt bụng, biết quan tâm... Và cô đã tìm được người đàn ông của mình nhờ cốc cà phê muối.
Câu chuyện đến đây vẫn là có hậu, vì "công chúa" đã tìm được "hoàng tử", và họ cưới nhau, sống hạnh phúc.
Mỗi buổi sáng, cô gái đều pha cho chàng trai - nay đã là chồng cô - một cốc cà phê với một thìa muối. Và cô biết rằng chồng cô rất thích như vậy. Suốt 50 năm, kể từ ngày họ cưới nhau, bao giờ người chồng cũng uống cốc cà phê muối và cảm ơn vợ đã pha cho mình cốc cà phê ngon đến thế.
Sau 50 năm, người chồng bị bệnh và qua đời, để lại cho người vợ một bức thư:
" Gửi vợ của anh,
Xin em hãy tha thứ cho lời nói dối suốt cả cuộc đời của anh. Đó là lời nói dối duy nhất - về cốc cà phê muối. Em có nhớ lần đầu tiên anh mời em uống cà phê không? Lúc đó anh đã quá lo lắng, anh định hỏi xin ít đường, nhưng anh lại nói nhầm thành muối. Anh cũng quá lúng túng nên không thể thay đổi được, đành phải tiếp tục lấy muối cho vào cốc cà phê và bịa ra câu chuyện về tuổi thơ ở gần biển để được nói chuyện với em. Anh đã định nói thật với em rất nhiều lần, nhưng rồi anh sợ em sẽ không tha thứ cho anh. Và anh đã tự hứa với mình sẽ không bao giờ nói dối một lời nào nữa, để chuộc lại lời nói dối ban đầu.
Bây giờ anh đã đi thật xa rồi, nên anh sẽ nói sự thật với em. Anh không thích cà phê muối, nhưng mỗi sáng được uống cốc cà phê muối từ ngày cưới em, anh chưa bao giờ cảm thấy tiếc vì anh đã phải uống cả. Nếu anh có thể làm lại từ đầu, anh vẫn sẽ làm như thế để có thể được em, và anh sẽ uống cà phê muối suốt cả cuộc đời."
Khi người vợ đọc xong lá thư cũng là khi lá thư trong tay bà ướt đẫm nước mắt.
Nếu bạn hỏi người vợ rằng: "Cà phê muối vị thế nào?", chắc chắn bà sẽ trả lời: "Ngọt lắm".

Cô gái đi xe buýt

Đã một năm kể từ khi Susan bị mù vì một chẩn đoán sai của bác sĩ, cô đột ngột bị ném vào thế giới của bóng tối, tức giận, tuyệt vọng và mặc cảm. Và tất cả những gì đủ để cô còn bám víu vào cuộc sống là vì bạn trai cô - Mark.
Mark là một sĩ quan quân đội. Anh rất yêu Susan, đã nhìn thấy cô tuyệt vọng đến mức nào, anh quyết định giúp Susan lấy lại được sức mạnh và tự lập.
Đầu tiên, anh tìm cho cô một công việc dành cho người khiếm thị. Nhưng làm sao cô đến chỗ làm việc được đây? Mark đề nghị đưa cô đến chỗ làm hằng ngày, dù hai người ở hai đầu thành phố. Tuy nhiên sau đó, Mark nhận ra rằng đó không phải là giải pháp. Susan sẽ phải tự mình đi xe buýt, tự đến chỗ làm - đó mới là cách đúng. Nhưng Susan rất nhạy cảm, cô ấy sẽ phản ứng thế nào?
Đúng như với Mark nghĩ, Susan hết sức hốt hoảng khi nghe tới việc mình phải tự đi xe buýt. "Em bị mù" mà"- Cô phản ứng bằng giọng cay đắng - "Làm sao em biết em sẽ đi đến đâu? Anh bỏ rơi em phải không?"
Mark rất đau lòng khi nghe những lời đó, nhưng anh biết phải làm gì. Anh hứa sẽ cùng cô đi xe buýt mỗi sáng và mỗi chiều, bao lâu cũng được, cho đến bao giờ cô quen với việc đi xe buýt.
Trong hai tuần liền, Mark trong bộ đồng phục quân đội, đi theo Susan đến nơi làm việc. Anh dạy cô làm sao để sử dụng các giác quan khác, nhất là thính giác, để biết mình đang ở đâu và làm sao để quen với môi trường mới. Anh cũng giúp cô làm quen với những người lái xe buýt, nhờ họ để mắt đến cô, giữ cho cô một chỗ ngồi hằng ngày...
Cuối cùng, Susan nói cô có thể tự đi được.
Sáng thứ hai, lần đầu tiên, họ đi theo hai hướng khác nhau.
Thứ ba, thứ tư, thứ năm... Mỗi ngày Susan đều tự đi xe buýt đến chỗ làm và đón xe buýt đi về. Susan cảm thất rất vui vì cô vẫn tự mình làm được mọi việc.
Thứ hai của 5 tuần sau đó, Susan đón xe buýt đi làm như mọi khi. Khi cô đang đóng tiền mua vé tháng cho người lái xe, bỗng anh lái xe nói: "Tôi thật ghen tỵ với cô đấy nhé!".
Susan không biết có phải anh ta nói với mình không. Nhưng nói cho cùng, có ai mà lại đi ghen với một cô gái mù đang đấu tranh để mà sống chứ? Cô hỏi:
- Sao anh lại ghen với tôi được?
- Vì cô được quan tâm và bảo vệ. Cô quả là hạnh phúc!
- Tôi được bao vệ? Anh nói thế tức là sao?
- Suốt mấy tuần qua, sáng nào tôi cũng thấy một chàng trai mặc đồng phục quân đội lái xe theo, rồi đứng bên kia đường nhìn cô xuống xe. Anh ta nhìn theo đến khi cô đi qua đường an toàn, đi vào nơi cô làm việc và vẫy tay chào cô rồi mới lái xe đi. Cô quả là một người may mắn!
Susan khóc. Vì cô không nhìn thấy Mark nhưng cô cảm thấy Mark ở bên cạnh. Cô là người may mắn vì cô đã nhận được một món quà mà cô không cần phải nhìn thấy tận mắt để tin: món quà của tình yêu có thể mang ánh sáng đến những nơi nhiều bóng tối nhất.
Tình yêu đích thực không bao giờ gục ngã

Shmily

Ông bà tôi đã cưới nhau được hơn nửa thế kỷ và họ cứ luôn hay chơi một trò đặc biệt của họ hằng ngày. Mục tiêu của trò chơi là một người phải viết từ "shmily" ở một bất ngờ quanh nhà ,còn người kia sẽ đi tìm. Ông bà bôi từ đó lên gờ cửa sổ. Nó được viết lên hơi nước còn đọng lại trên gương sau vòi nước nóng. Thậm chí, có lần bà còn lật từng tờ của tập giấy nháp trân bàn để tìm thấy "shmily" trên tờ cuối cùng. Những mảnh giấy nhỏ với chữ "shmily" được viết nguệch ngoạc được tìm thấy khắp nơi, có khi được nhét vào trong giày hoặc dưới gối. Từ "shmily" bí ẩn này gần như trở thành một phần trong ngôi nhà của ông bà tôi, cũng giống như đồ đạc vậy
Thái độ hoài nghi và sự thực dụng ngăn cản tôi tin vào tình yêu nồng nàn và lâu dài. Cho đến khi tôi khám phá được "trò chơi" của ông bà tôi.
"Trò chơi" đi tìm từ "shmily" cứ tiếp diễn, cho đến khi bà bị bệnh ung thư. Bà yếu dần và không dâïy được khỏi giường nữa. Và một ngày kia, tất cả chúng tôi đều phải đối diện với một thực tế đau lòng:Bà mất. "Shmily" được viết nguệch ngoạc bằng màu vàng trên một dải lụa hồng đặt cạnh giường bà vào hôm bà mất. Khi tất cả họ hàng và những người quen biết đã đi về, ông tôi lại gần giường bà nằm và bắt đầu hát cho bà nghe. Giọng ông khàn và nghẹn.
Tôi không bao giờ quên được khoảnh khắc ấy. Vì tôi biết tôi đã được chứng kiến một tình yêu không bao giờ chết.
Tôi hỏi ông tôi, sau bao nhiêu năm,rằng "shmily" có nghĩa là gì. Và lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, tôi được biết "shmily" đơn giản là " See how much I love you"

Ông Miller

Trong suốt những năm khủng hoảng ở cái bang Idaho bé nhỏ nằm phía Đông Nam nước Mỹ này, tôi thường đến cửa hàng nhỏ của ông Miller để mua rau quả tươi. Thực phẩm và tiền bạc đều khan hiếm, nên đôi khi chúng tôi dùng hình thức đổi chác.
Một hôm, khi ông Miller đang bỏ một ít khoai tây vào túi cho tôi, thì tôi nhìn thấy một cậu bé gầy gò, ăn mặc rách rưới nhưng khá sạch sẽ, đang nhìn giỏ đựng quả đậu xanh với ánh mắt đói khát. Tôi trả tiền xong liền đứng lại nghe cuộc nói chuyện giữa ông Miller và cậu bé ăn mặc rưới kia.
- Chào Barry, cháu khỏe không? - Tiếng của ông Miller.
- Chào ông Miller, cháu khỏe ạ! Cháu nghĩ đang ngắm giỏ quả đậu này. Trông chúng ngon thật đấy!
- Chúng ngon lắm, Barry ạ ! Mẹ cháu khỏe không?
- Cũng bình thường ạ? Hình như mẹ cháu đang khỏe lên.
- Tốt! Ta có thể giúp gì cho cháu nào?
- Không ạ, thưa ông. Cháu chỉ ngắm giỏ quả đậu thôi?
- Cháu có muốn lấy một ít không?
- Không ạ, thưa ông. Cháu không có tiền trả đâu.
- Được, cháu có gì để đổi nào?
- Cháu? - Tiếng cậu bé ngập ngừng - Cháu chỉ có một viên bi cháu mới chơi thắng được thôi ạ !
- Thế à? Cho ta xem nào!
- Đây, viên đẹp nhất đấy ạ !
- Nó màu xanh à... Nhưng ta đang cần viên màu đỏ. Cháu có viên màu đỏ không?
- Cháu không nhớ, để cháu xem...
- Này, cháu đem giỏ đậu này về nhà đi và lần sau mang cho ta viên đỏ nhé!
- Chắc chắn rồi, cảm ơn ông?
o0o
Có hai cậu bé nữa như thế ở làng này. Chúng nghèo lắm. Ông Jim nhà tôi cứ thích đổi chác, cho chúng quả đậu, táo, cà chua và những thứ khác. Cứ khi chúng giơ viên bi màu xanh ra, ông ấy lại bảo chúng cầm một ít rau quả về nhà và lần sau mang viên bi màu đỏ cho ông ấy. Vừa để chúng chịu mang rau quả về nhà ngay, vừa để chúng cảm thấy chúng thực sự đã làm gì cho để trao đổi, chứ không phải được cho không. Tôi thấy rất cảm phục ông Miller. Không lâu sau, tôi chuyển nhà, nhưng câu chuyện về ông Miller, người nông dân nhân hậu ấy, thì tôi không bao giờ quên.
Nhiều năm sau, lại có lần tôi quay về làng quê ở Idaho và rất buồn vì trong thời gian ở đó thì nghe tin ông Miller mất. Khi cùng vài người bạn cũ đến nhà ông Miller, tôi thấy ở đó có ba chàng trai trẻ, trông rất thành đạt. Họ đến gần bà Miller, ôm lấy bà và nói những lời an ủi. Rồi từng người một, họ đến bên ông Miller đang nằm đó, chạm những bàn tay nóng ấm của mình vào bàn tay lạnh lẽo của ông Miller và lau nước mắt.
Rồi tôi cũng lại gần bà Miller và nói rằng tôi vẫn nhớ câu chuyện về những viên bi ve ngày nào. Bà Milìer nói:
- Ba chàng trai lúc nãy chính là những cậu bé ngày trước, tôi kể với cô. Họ vừa nói với tôi là họ đã biết ơn ông Jim và những gì ông đã "đổi chác" cho họ biết chừng nào. Và cuối cùng, bây giờ, khi ông Jim không còn đòi họ đổi những viên bi màu nào nữa, thì họ quay lại để tỏ lòng biết ơn ông ấy. Ông Jim luôn nghĩ mình là người giàu có nhất ở bang Idaho này với những viên bi ông có được.
Rất nhẹ nhàng, bà Miller nhấc bàn tay của ông Jim lên. Dưới bàn tay ông là ba viên bi đỏ, sáng bóng và trong veo.

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010

Nhớ Tết lúc bé

Kế tiếp với: "Bắt cá chép: khó đấy chứ các bác"

Tết đến, khắp đất nước náo nức đón Tết. Phố xá ấm áp dưới nắng sớm, khắp chốn bá tánh xuống phố sắm Tết. Cứ đến Tết, tớ thấy nhớ tới lúc tớ bé, nhớ mấy lúc ngóng Tết đến.

Lúc tớ bé, lúc ấy đất nước rất khốn khó. Tết đến, má tớ nhắc tớ xuống cuối xóm kiếm bác Tám hớt tóc, hớt tóc mới sáng láng, má dắt xuống phố sắm áo mới, sắm dép mới. Bố nhắc má nhớ sắm chút bánh, mứt tiếp khách.

Đến cuối tháng, má nhắc xuống bếp xúc nếp, hái lá chuối gói bánh tét. Tớ rất khoái nấu bánh tét, lúc ấy tớ thức với bố tớ tuốt tới sáng, thích lắm.

Tết. Khắp xóm tiếng pháo đí đét, xác pháo rớt thắm lối xóm. Mấy đứa bé hốt xác pháo ném tí tóe. Tớ rất thích đốt pháo, tớ đốt pháo tép. Tớ nhớ tiếng pháo ấy . Tiếng pháo giúp tớ có cái Tết lúc bé rất phấn khích.

Tết. Tớ súng sính áo mới, dép mới xuống chúc tết bố tớ. Bố tớ phát đến chúng tớ mấy cắc, chúc chúng tớ chóng lớn. Chúng tớ khoái chí, kéo đến chúc tết khắp lối xóm kiếm cắc, há há. Khách khứa đến chúc Tết bố, má. Chúc Tết, kế tiếp chúc uống, uống chút ít với bố tớ. Bố tớ rất phấn khích.

Đến Tết chín sáu (1996), khắp nước cấm đốt pháo, bắt bớ ráo riết. Vắng tiếng pháo, phố xá vắng xác pháo thắm, Tết đến bớt phấn khích, bớt háo hức, chí ít đối với mấy đứa bé hóng Tết…

Cứ thế, ký ức giúp tớ lớn, chính cái ký ức lúc khốn khó nhắc tớ gắng sống tốt, sống xứng đáng với bố tớ, với má tớ.

Lắm lúc nhớ tới mấy ký ức lúc bé, nhớ muốn phát khóc.

Tết đến, bá láp tiếp với dấu sắc, chắc chắn có thiếu sót, các bác chớ trách. chúc các bác đón Tết mới tấn tới, nếu ghé blog tớ, nhớ viết chút ít nhé.

Chiều Tâm Can

Mấy hôm nay buồn, nhiều việc để buồn.

Buồn thì thèm rượu, đêm qua ngồi nhìn chai rượu chừng nửa tiếng rồi kiên quyết không uống, chỉ hút vài điều thuốc rồi đi ngủ.

Đọc lại bài thơ cũ, viết trong lúc rất buồn.

Chiều tâm can

Thôi ta chán thói người lòng sung lòng vả
Ta phù sa bao nhiêu mà nuôi hết bạc màu
Chiều đã mây mưa từ muôn phía
Ta có vụt mình như những ngọn lau

Ta không về ta còn biết đi đâu
Phía gió không thành, phía mưa sũng ướt
Chiều như đã không chiều hơn được
Vậy mà dòng sông chảy đến chỗ không người

Em có bao giờ nghe mưa như tâm can
Chuyện kể về Thạch Sanh và nỗi buồn trong núi thẳm
Kìa buổi chiều rung lên chớp sấm
Ta muốn làm Lý Thông để trời lột kiếp người

Không phải ta mà trang thơ kiệt vắt
Những cánh bèo không biết hướng dòng trôi
Này Tô Thị, gã đàn ông đi mất
Những vọng trông đá núi cũng xanh rồi

May mà còn khi chén say chén tỉnh
Còn khi thơ, còn khi em và còn khi mưa
Còn khi thấy mình là hiện hữu
Buổi chiều trút tâm can cười chuyện không đùa

SG-02-1998

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...