Thứ Ba, 29 tháng 9, 2009

Côn Đảo - Mùa biển động

Côn đảo – Mùa biển động

Thường con người ta vẫn có nhiều giấc mơ. Tùy theo mỗi giai đoạn của cuộc đời, giấc mơ sẽ thay đổi, có những giấc mơ mãi mãi chỉ là giấc mơ nhưng cũng có những giấc mơ sớm trở thành hiện thực, để rồi tạo ra những khoảnh khắc đáng nhớ trong đời. Gần đây tôi có 3 giấc mơ: 1. Đi câu biển một chuyến thật xa và thật lâu, 2. Lái xe (Vitara) đi dọc Việt Nam và cả ba nước Đông Dương (nếu được), 3. Đi du lịch bụi ở Châu Âu.

Giấc mơ đầu tiên vừa trở thành hiện thực: Một tuần lênh đênh trên một chiếc thuyền giữa vùng biển đảo Côn Lôn. Chuyện đi câu đối với tôi thì không khó vì cái tên Đàm Hà Phú cũng khá được biết đến ở những diễn đàn câu cá Việt Nam nhưng để thu xếp một tuần không kết nối với công việc, với gia đình và cả với… thế giới nữa quả là một việc hết sức khó khăn. Những với quyết tâm sắt đá phải thực hiện cho bằng được giấc mơ, tôi đã nhờ một ngươi bạn lên lịch, đặt vé máy bay, đặt ghe câu cho mình…để tự buộc mình vào cái thế không thể thối lui được nữa. Và thế là đến hẹn, tôi tạm biệt vợ con, ra sân bay.

Điều đầu tiên cần nói với các bạn là cần và máy câu. “Những thứ cần, máy mà chúng ta vẫn thường bắt bọn cá Chép, Tra trong hồ (Dù là 8 hay 10 kí) sẽ chỉ là đồ bỏ khi ra khơi”, khi được một bạn câu bảo vậy, tôi đành bấm bụng chi 5 triệu đồng cho 2 bộ cần và máy mới toanh để phần nào yên tâm trước mấy gã bạn câu khét lẹt mùi biển cả.

Điều thứ hai là say sóng, những con sóng ngoài khơi cao từ 3~5 mét làm con thuyền như một chiếc xích đu lớn luôn chao đảo sẽ là nỗi ám ảnh của nhưng người có thần kinh tiền đình không đủ mạnh, (vụ này thì tôi không sao, ơn cha mẹ cho một cơ thể khỏe mạnh).

Chuyến bay bị trễ gần 2 giờ, chuyện thường ngày ở terminal nội địa. Côn Đảo cách HCM 45 phút giờ bay, gồm một hòn đảo lớn và nhiều đảo nhỏ, địa hình toàn đồi núi và rừng nguyên sinh, một cái eo bằng phẳng nhất nối hai cái vịnh nhỏ được chọn làm sân bay với chiều dài đường băng khá khiêm tốn. Do không đủ đường băng để hạ cánh nên bạn đừng quá lo sợ nếu chiếc ATR-72 hạ độ cao từ ngoài biển và đáp xuống đường băng như thể nó vừa trúng một quả Stinger.

Côn Đảo nhìn từ trên cao


Từ sân bay Cỏ Ống chúng tôi được đón bởi một tài xế địa phương để chở chúng tôi và lỉnh kỉnh những món đồ câu ra bến Đầm. Thị trấn Côn Đảo là một vịnh kín, tựa lưng hai dãy núi nằm giữa sân bay Cỏ Ống và cảng cá Bến Đầm, một thị trấn nhỏ, vắng, buồn. Những con đường thật nhỏ với vỉa hè, hàng hiên cũ kỹ và những hàng cây rất thơ…nhưng con người ở đây thì đậm vẻ thân thiện, hiếu khách và hào hiệp kiểu người vùng biển đảo.

Trên bến Đầm chuẩn bị xuống thuyền.


Chiếc thuyền chúng tôi đi là một chiếc thuyền câu khơi 16 mét dài và gần 4 mét ngang, với 3 hầm đá lớn do một thuyền trưởng lão luyện và một thủy thủ đoàn rất dễ thương, nhiệt tình đã đưa nhiều đoàn đi câu rất thành công. Lịch đặt ghe câu của ông thậm chí đã kín đến hết …tháng Sáu năm sau.

Chúng tôi nhanh chóng lên thuyền, triển khai vũ khí, khí tài và tận dụng số mực sống còn sót của đêm câu hôm trước để tranh thủ thả câu kịp con nước chiều. Vừa nhóng chiếc cần câu đáy được vài cái, tôi bỗng thấy cây cần gục xuống một cái thật mạnh, chưa kịp định thần, thì tay máy đã cứng ngắc, mô bin từ từ tuôn rè rè… tôi chỉ kịp cầm chắc cây cần đang cong sát mặt nước để chịu lại với sức nặng từ phía đầu kia dây câu. Thuyền trưởng nhìn cây cần của tôi vội la lớn: “Mú, mú lớn đó, ráng bẩy lên”. Nhưng do chưa quen với cảm giác đấu sức cùng khủng long, tôi chỉ biết dùng tất cả cơ bắp để chịu lại, dưới đáy nước, con cá di chuyển như một chiếc tàu ngầm, và phựt…đứt dây thẻo. Sau một chuỗi những cái dậm chân, đập tay, vò đầu vì tiếc nuối thì tôi cũng buông được mồi câu thứ 2, nhưng kể từ đó đáp lại sự hồi hộp của tôi chỉ là một sự im lặng đáng sợ cho đến hết buổi chiều. Chúng tôi cuốn cần để vào bãi làm mực cho chuyến câu vào con nước rạng sáng ngày mai. Những con Mực ống bằng cùm tay người lớn được chúng tôi lần lượt câu lên, rộng vào kiệt nước đế chúng có thê sống thoải mái trước khi xuống làm mồi cho lũ cá.

Câu mực làm mồi


Sáng sớm khi mặt biễn còn sẫm màu đen thì chúng tôi lặng lẽ đến buông câu ở điểm câu mới. Chọn cần dài, máy lớn để câu cá Thu (vì cá Thu có nước chạy rất dữ dội), chọn cần ngắn, cứng, máy khỏe để câu đáy. Trong khoảng gần 10 phút buông câu chúng tôi vẫn chưa có chú cá nào, tôi vội thu cây cần đáy lên để thay mồi, khi đang thu dây được nửa chừng thì cây cần một lần nữa gục xuống thật mạnh, sau đó là tiếng mô bin xả nghe chói cả tai. Rút kinh nghiệm ngày hôm qua, tôi lấy hết sức bình sinh đánh mạnh và bắt đầu dòng con cá, một con cá lớn. Cái chuôi cần tì vào bụng dưới tôi đau ê ẩm, tay cầm cần mỏi nhừ như sắp rớt ra, tay cầm máy thì cứng đơ…tôi ghì với con cá lúc cương lúc nhu dều đặn theo lời vị thuyền trưởng lão luyện đứng cạnh để động viên. Sau gần 20 phút chiến đấu thì tôi cũng đưa được chú ta lên bờ: Một con Thu 10 kí

Con cá Thu 10 ký


Buổi câu hôm đó tôi làm thêm một chú Lão gần 4 ký.


Cứ như vậy suốt 4 ngày đêm chúng tôi lang thang lênh đên trên thuyền, ngày câu cá đêm đánh mực, khắp vùng biển Côn Đảo. Ba thành viên còn lại của đoàn câu làm thêm 3 con Thu, một Cam Đòn hàng 9, 2 Nhồng hàng 5 và vô số cá nhỏ hàng 3~4 kg. Tổng cộng 4 người câu chừng hơn trăm ký cá. Hai ngày cuối cùng chúng tôi gần như không câu được gì vì biển quá động. Sóng to, gió lớn cộng những cơn mưa liên tục làm chúng tôi sẩy rất nhiều cá lớn, chỉ bắt được thêm chừng hơn mươi ký cá Róc, một loại cá rạng ăn rất ngon thịt.

Sau khi lên bờ, chúng tôi tiến hành một chuyến viếng thăm mang tính nghi lễ tinh thần không thể thiếu, cho dù là đối với người mới như tôi hay anh bạn câu lão luyện đã đến Côn Đảo vài chục lần: viếng nghĩa trang Hàng Dương và mộ chị Võ Thị Sáu. Chúng tôi ghé chợ Côn Đảo mua nhang, trái cây và một bộ quần áo, dép và vật dụng con gái dành riêng cho chị Sáu.

Nắng chiều trên nghĩa trang


Mộ Chị Sáu lúc nào cũng ấm áp khói nhang


Trong hành trình trên hòn đảo huyền thoại của tinh thần yêu nước quật cường, chúng tôi không thể không ra bến tàu 914, nơi mà dưới ách nô lệ đã có 914 người con Việt Nam chết trong khổ cực chỉ để làm một cây cầu tàu dài chưa đến 100m.


Tạm biệt Côn Đảo. Tạm biệt những ngày đáng sống và đáng nhớ trong đời

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2009

Phổ cập “Văn Hóa Rượu” – Phần 2 (Thơ)

Say Hoa

Giữa Thiên Hà một cội hoa vừa thức
Dụi mắt nhìn Xuân gầy guộc trên cành
Này rượu uống thênh thang cùng ký ức
Để nhớ ngày nào mình chơm chớm xanh

Anh về ở cùng hoa dăm đêm thanh
Mưa có phải mưa đâu mà ướt áo
Trần gian đầy những hình nhân cơm gạo
Anh và hoa thẩm thấu cuộc nhân tình

Này khi rượu say ta trọng ta khinh
Thơ cứ đương đương chông chênh thù tạc
Hoa cứ ngát lên phù du phó mặc
Cứ đắm ta vào mấy cõi quên quên

Nào một chung cho tình thương loài người (Cố nhiên)
“Cuốc đời bé” và mấy “linh hồn bé”
Quanh quất giấc mơ đầy tính toan nứt nẻ
Ta cười thay, đời dế giống đời giun

Nào một chung cho Sài Gòn mười năm
Đi không đến những đêm dài đêm ngắn
Lá cứ vàng những con đường trĩu nặng
Cho mỗi ngày xuôi ngược đếm ngược xuôi

Nào một chung cho bè bạn lâu rồi
Thủa buồn vui có câu thơ cười khóc
Sống thần tiên cười mưu sinh khó nhọc
Hành trang một đống chữ tiền nhân

Nào một chung cho em, một đời tình nhân
Xin một nụ cười trên lo toan bụi bặm
Mỗi một ban mai lay anh, này cô Tấm
Khỏi một cơn mê và tiếp tục một cơn mê

Nào một chung cho quê hương không về
Dăm ba tháng chỉ chạnh lòng xót dạ
Xin thứ tha cánh chim bằng chưa hả
Hết ngàn xanh rồi sẽ trùng dương

Nào một chung rồi lại một chung
Hoa đã say rồi, hương rơi đầy trái đất
Anh mới bắt đầu còn ngêu ngao hát
“Khễ vị đấu mễ, hề, nhi chiết yêu…”

SG-01/02/2000

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009

Phổ cập “Văn Hóa Rượu” – Phần 1

Đầu trang có câu: “Uống rượu, làm thơ, giang hồ nửa buổi” (nghe tệ nạn quá nhỉ). Xin đừng nhầm lần giữa 2 phạm trù “uống rượu” và “nhậu”. Các bạn trẻ bây giờ (mà cả nhiều người lớn tuổi nữa không chừng), có hai trường phái: khoái “nhậu” hoặc ghét “nhậu”. Nhưng cái phạm trù “uống rượu” trong sơ ri mà tôi muốn phổ cập cùng các bạn sau đây thì hoàn toàn không phải chuyện “nhậu” nhé. Xin đừng lầm lẫn.
Xin phép bỏ qua khái niệm: Rượu. Các bác tự hỏi bác Gu Gồ về định nghĩa, quá trình hình thành, công thức hóa học, cách pha chế, các dòng sản phẩm…của rượu nhé. Coi như ai cũng biết về rượu, vậy thì “uống rượu”, nghĩa là..uống rượu. Có gì hay?

Xin bắt đầu bằng Lưu Linh (Tên Chữ: Tự Bá Luân, người đời Tấn, bên Tàu Khựa) vì người uống rượu thường hay nhận (hoặc bị gọi) là đệ tử Lưu Linh. Xin phép trích dẫn bài sau của Lưu Linh, coi như một định nghĩa bất hủ về người uống rượu đã.

Tửu Đức Tụng

Có bậc tiên sinh đại nhân, lấy thiên địa làm một buổi, vạn ngày làm thoáng chốc, nhật nguyệt làm then phên, lấy khắp bát hoang làm sân ngõ. Đi về không vết tích, ở chẳng nhà cửa, màn trời chiếu đất, như ý tự tại. Dừng lại thì nâng chén ôm bầu, khi đi thì quảy bình đeo nậm. Duy chỉ có rượu là việc lớn, kỳ dư còn việc chi nữa?

Có chàng công tử quí phái kia, thế phiệt nho gia, phong thanh biết ta, cất giọng bình nghị. Lại xắn tay xốc áo, trợn mắt nghiến răng, thuyết giảng lễ nghi, phải trái rạch ròi. Đang lúc ấy, tiên sinh nâng hũ ôm bình, ngậm chén nốc rượu. Vễnh râu xoạc chân, gối đầu lên men, ngã lưng trên bã, vô tư vô lự, vui mừng hớn hở, đột nhiên mà say, khoát nhiên mà tỉnh. Lắng tai chẳng nghe tiếng sấm sét, ngắm kỹ chẳng thấy núi Thái sơn, nóng rét cắt da mà không cảm giác, lợi dục chẳng động tâm. Cúi xem vạn vật, lênh đênh như lục bình đẩy đưa trên sông nước; hai vị đứng bên chầu, như tò vò nom minh linh(*).

Trương Củng phỏng dịch


*. Minh linh 螟蛉 một thứ sâu ăn hại rau. Những con tò vò thường bắt để ở trong tổ để làm lương ăn cho con, tục lầm cho nó nuôi để làm con nó, vì thế nên người sau gọi con nuôi là minh linh.

Trong phần này hẵng tạm không bàn nhiều

To be continued

BIỆT NGU CƠ

Hiền Nữ hiền nữ ơi
Rừng khuya sương giăng rồi
Dạ cầm nàng vọng tiếng
Sương khói chạnh lòng thôi

Từ mùa chinh chiến cũ
Ta Hán Sở tranh hùng
Ở đây dòng sông vắng
Lều giăng, máu lệ chùng

Ta chạy về đốt lửa
Sưởi lòng nàng từ ly
Buồn ngoài kia chiến mã
Cầm tay nhau nói gì

Kiếp này là kiếp nào
Ta thương nàng hiền nữ
Từ một thủa binh đao
Lòng đã tình một chữ

Mai lại về đốt lửa
Còn ấm lòng ta chăng
Nàng đi ta ở lại
Lá mùa Xuân cũng vàng

Hiền nữ ơi hiền nữ
Dạ cầm nàng gọi ta
Ngày mai về đốt lửa
Ta tấu Hiền Nữ Ca

Chú:
Một số bạn đọc bài này không hiểu, sao đặt tựa là “Biệt Ngu Cơ”, có bạn đùa: dịch nôm có phải là “Tạm biệt cơ đồ ngu dốt”, ặc.

Bài này ta viết thay cho Hạng Võ, trong đoạn trích sau:

Biệt Ngu Cơ
Hạng vương đóng quân ở trong thành Cai Hạ, binh ít, lương hết. Quân Hán và quân chư hầu bổ vây mấy vòng. Đang đêm, Hạng vương thức dậy nghe quân Hán ở bốn mặt đều hát giọng Sở, Hạng vương kinh hoàng, nói:
Hán đã lấy được Sở rồi sao? Sao mà người Sở lại đông như thế?
Đêm đó Hạng vương uống rượu trong trướng cùng mỹ nhân Ngu Cơ. Hạng vương đau đớn cảm khái làm bài thơ, được đời sau gọi là bài "Cai Hạ ca":
Lực bạt sơn hề, khí cái thế,
Thời bất lợi hề, Chuy bất thệ
Truy bất thệ hề khả nại hà,
Ngu hề, Ngu hề nại nhược hà.

Dịch: (Không cung cấp bản dịch, vì bản dịch quá dở)

Hạng vương ca mấy lần, Ngu Cơ múa kiếm, hát hòa theo, lời ca rằng:
Hán binh dĩ lược địa,
Tứ diện Sở ca thanh.
Trượng phu ý khí tận,
Tiện thiếp hà liêu sinh.

Dịch: (Không cung cấp bản dịch, vì bản dịch quá dở)

Rồi Ngu Cơ tự vẫn. Tương truyền nơi máu bà đổ xuống mọc lên một thứ cỏ hễ có rót rượu gần bên thì cỏ múa lả lướt như Ngu Cơ trong tiệc rượu của Hạng Vũ. Người ta gọi cỏ ấy là "Ngu mỹ nhân thảo".

Theo Sử ký, khi Ngu Cơ chết, Hạng Vương khóc chảy nước mắt, tả hữu đều khóc, không ai có thể ngẩng lên nhìn.

Còn Hạng Võ, Ngu Cơ là ai, thành Cai Hạ ở đâu, chuyện này xảy ra khi nào, và sau đó thì thế nào…xin các bác tự hỏi bác Gu Gồ dùm. Phú tôi vô cùng ngưỡng mộ Hạng Võ.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2009

Vọng khúc Chiêm thành

Trăng rơi trên đồi đá xưa
Phiến tích một thời chiến quốc
Đêm Ponaga cô độc
Nghe từng viên gạch nỗi niềm

Chiêm thành, Chiêm thành đêm
Gió sinh linh tiếng khóc
Anh làm thơ trên đất đai cỏ mọc
Đỏ ngời và xanh ngời

Ly rượu cúng mùa hắt lên trời
Ly rượu cúng mùa hắt xuống đất
Ly rượu cúng Chiêm thành hắt vào trong ngực
Âm ỉ say từ thủa Chế Bồng Nga

Lễ Bỏ Khăn nụ cười em thật thà
Tấm áo mừng họa tiết Chămpa
Trống tay hát bi hùng theo vó ngựa
Của những chiến binh Chiêm thành không về nữa
Trên đất xương rồng máu trổ hoa

Rượu cúng mùa hắt lên câu thơ
Chiêm nữ múa trên đồi bóng tháp
Áo dệt bằng sương
Áo dệt bằng trăng

VUI ĐỜI ĐẠI CÁO

(Post lại bài cũ - Xin Lỗi Cụ Nguyễn Trãi - Mến Tặng anh em cần thủ www.4so9.com)

Từng nghe:
Chuyện câu cá cốt để sinh nhai,
Dân cần thủ trước lo cơm gạo;

Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn di truyền nền ngư điếu đã lâu,
Sông nước có ở khắp nơi,
Mồi màng Bắc Nam cũng khác;
Từ Chử Đồng Tử, Yết Kiêu; đã bao đời cầm cần giữ vó;
Cùng Lã Vọng, Tử Nha; mỗi bên sát cá một phương;
Tuy lớn bé có lúc khác nhau,
Cá dưới nước thời nào chả có.

Cho nên:
Trạng Trình mấy lần cầm cần mưu việc lớn;
Nguyễn Khuyến bao phen lánh nạn chốn Ao Thu;
Cũng nhờ nghề câu mà:
Quen sông nước, cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Rành Thủy Triều, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét.
Chứng cứ còn ghi.

Vừa rồi:
Nhân Đổi Mới rực rỡ thành công
Để trong nước lòng dân phấn khởi
Anh em rảnh rỗi tìm nhau câu cá
Họp hội hè chia cái thú vui đời
Nướng Cá Lóc trên ngọn lửa rơm vàng
Chiên con Chẻm trong chảo dầu sùng sục
Chuyện bon chen nhỏ nhoi sau chén rượu
Tình anh em ấm áp bên ngọn cần
Chuyện Điếu Ngư thành cái thú ở đời
Dân Cần Thủ thành danh trong xã hội.

Người theo chân cha anh tìm lại ruộng đồng,
nơi con rô bí, con trê vàng là kỉ niệm.
Kẻ yêu thiên nhiên đến chốn biển rộng sông dài,
thỏa chí với ngọn mưa ngàn, cơn gió núi.

Đôi khi đau lòng nhìn sông nước chốn chốn lưới giăng.
Có lúc chua xót hay tin ruộng đồng nơi nơi chích điện.

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Làm sao mai sau còn cá mà câu?
Chưa kể bọn doanh nghiệp tham lời bất cần luật lệ,
Bao nhiêu đồ dơ bẩn tanh hôi đem xả xuống sông ngòi
Để cho
Nặng nề sông chảy trong ô nhiễm
Tan tác cá tìm chốn thoát thân.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lòng người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha;

Anh em ta đây:
Từ Sài Thành vang ra tiếng gọi
Khắp chốn đã nguyện sẽ đồng lòng
Gọi cần thủ về bên mái nhà chung
Góp tiếng nói liên bang thành sức mạnh

Chuyện hội câu toan tính đã mấy năm trời
Khi thịnh lúc suy, há phải một hai sớm tối.
Kinh nghiệm nghề câu, các bí kíp suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ Hội dấy lên,
Chính lúc thú câu lan rộng.

Lại ngặt vì:
Kẻ tâm phúc như sao buổi sớm,
Người thật lòng như lá mùa thu,
Việc trong Hội đôi khi thiếu kẻ đở đần,
Tiền tài trợ lắm lúc hiếm người giúp đỡ,
Tấm lòng vì Hội,
Vẫn đăm đăm muốn đủ mặt anh tài,
Cỗ xe cầu hiền,
Thường chăm chắm chờ ngày Hội lớn.

Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng,
Mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Nguyên Trang Chủ tự phải dốc lòng,
Cùng Cao Thủ Việt Hòa xây nền bốn chín (www.4so9.com)
Phần vì mong anh em cần thủ có chỗ tâm tình,
Phần vì lo những bí kiếp nghề câu không nơi cất giữ,
Khi mục “Địa Danh”, mình tự đi tự viết
Lúc cái “Tàng Thư” phải nhờ vả bạn câu.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Nên gắng trí khắc phục gian nan.
Cần thủ bốn cõi một nhà,
Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Mấy mươi người một lòng huynh đệ,
Từng chia nhau chén rượu ngọt ngào.

Hội tự phát nhưng thuận lòng cần thủ
Web cá nhân mà nức tiếng đồn xa .

Trọn hay:
Nhờ chân tình , anh em ngày đến một đông
Cùng đam mê, truy cập web ngày trên ngàn lượt
Câu Hồ Cốc, người đi như trẩy hội
Đến Club Xanh, tay bắt mặt mừng.
Câu kéo đã hăng, hội mình càng lớn mạnh.
Anh em câu ngoài Bình Thuận, Đà Nẵng cũng đến chung vui,
Thêm cao thủ chốn Hà Thành , Hải Phòng góp thêm làn gió mát
Thừa thắng phát huy, câu giao lưu cùng liên bang Trung Quốc,
Tuyển binh tiến đánh, qua Thái Lan câu là chuyện nên làm.
Côn Đảo cá chất đầy thuyền, gãy cần dăm lượt
Phan Thiết mấy bận kinh hoàng, đem về quái thú.
Vì đại cuộc: Bác Việt Hòa tối tối viết bài
Quá tận tâm: Nguyên Trang Chủ từng vào bệnh viện
Hồng Sơn có lúc chạy vắt chân,
mà nhà tài trợ lúc cười lúc mếu
Nghĩa Cá Đối tận tình
nên anh em có sức tham câu
Mọi người cùng góp của góp công,
Bốn số chín trở thành hiện tượng,
Không vụ lợi mà anh em vẫn đến thật lòng,
Đôi lúc vì chuyện câu có lời qua tiếng lại
Nhưng tình chung vẫn sáng với trăng rằm
Có khi buông tiếng khích nhau
Cũng chẳng qua là mong góp sức

Bởi thế:
Nghe Nha Trang cảnh đẹp, đem gia quyến về dự hội câu
Long An cá Lóc về, đội nắng rê tan tành xác nhái

Quí Mùi tháng tám,
Tại Hồ Cốc câu xa: Huỳnh Minh Định đã manh nha cao thủ
Ất Dậu tháng mười hai,
Ở Ao Đôi dây nhỏ: Huỳnh Minh Định trở thành vô địch

Anh em bắt tay nhóm Hội
Cử người giao thảo khắp nơi

Cố đô Huế: Câu Sông Hương tiên cảnh
Đảo Long Sơn: Câu cửa biển trên thuyền
Phan Thiết đến rồi, Trị An từng thả chính
Tuyền Lâm Chép nhỏ, Bình Phước khó câu thay!
Nam Cát Tiên, đem cần tìm cá bự
Đến Bến Tre, đêm trắng đón Bông Lau
Thuận đà tung mồi ra Mũi Né
Được nước đại náo Cù Lao Chàm
Chưa kể bao đêm đốt muỗi Hồ Hoang
Hẹn đến giữa mùa khô bắt cá

Hội viên toàn người năng nổ
Ban Chủ Nhiệm tài đức có thừa
Cần cũng chẳng cần thứ tốt
Máy cứ chọn loại vừa vừa
Câu trận đầu anh em vừa biết tiếng.
Câu trận sau đã hạn chế người theo.
Đây Bác Hòa, xứng danh lão tiền bối
Còn Bác Hán, chẳng hổ tiếng anh hùng
Ao đôi, Đồng Diều: đã mấy bận so cần
Hồ Cốc, Vũng Tàu: bao nhiêu chì ném xuống

Vui sướng thay! Thiên nhiên cùng hòa nhịp,
Ấp áp thay! Gia quyến cũng chia vui.
Nhờ danh tiếng các cao nhân,
Nay xách cần đi câu không cần xin phép vợ
Bốn số chín thành hình,
Qua báo chí bá tánh càng biết tiếng

Ao Đôi, tuy dây nhỏ như tơ mà cá lên bờ toàn cá ông cá cụ
Đồng Diều, toàn cần tay dây mảnh nên cao thủ mới ra tay
Câu sướng quá, tối về nằm mơ còn kéo cá
Bạn bè vui, “tới bến” vẫn còn vui

Chẳng những là thuốc chữa u sầu kì diệu
Cũng là một hội vui hiếm thấy xưa nay

Bốn Số Chín từ đây vững bền
Hội Câu Cá mỗi ngày đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Ngàn năm sau con cháu có đi câu còn xưng danh bốn số chín
Âu cũng nhờ công Nguyên Trang Chủ vất vả bấy lâu
Cùng với bác Việt Hòa tảo tần từ ngày đầu nhen nhóm
Bốn phương câu kéo thanh bình,
Ban chiếu vui đời khắp chốn.
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.

Điệp Ngữ 01

Cho em và mưa

Đã đẫm mấy giọt dài giọt vắn
ướt vào mắt vào môi vào bàn tay
xinh nhự nụ của một loài Hải Thảo
Đã bao giờ
đã bao giờ anh ước từng qua đây

Giấc mơ anh hiền lành như chiều
như chiếc lá Sầu Đông hăng hắc
trên bàn tay
trên bàn tay
mà những ngón rất mùa rất nhạc
rất khói sương rất đỗi thời gian

Đã mưa đầy trên phố cùng nhau
như một chút đen đã thành lay láy
Không làm thơ
không khóc vì yêu
sao em thở nghe buồn đến vậy

Những con chữ đến là hư quá
thèm say say nhớ nhớ cuồng cuồng
thèm được hát
hát một câu gì đó
(một câu gì mà em đã thương)

Thành phố này mưa này trái tim này
Em hãy thắp ngày đông tháng giá
Anh sẽ hóa thành bong bóng vỡ
hóa thành thơ thành nỗi nhớ
thành những vòng đồng tâm khép kín lấy mình

Điệp Ngữ 02

Cho riêng Mưa

Quán bán gì chỉ giăng đầy những gió
Những mưa lâm thâm trên mái đến nao lòng
Ly rượu ấm nâng bàn tay ấm
Tất cả đã xa mù trong đôi mắt trong

Tất cả đã hoài âm tất cả đã tháng năm
đã chiều đã tối đã sương giăng cùng khắp
Anh ngồi với nỗi buồn chắp nhặt
Buồn từ đâu theo gió buồn về

Quán vùng nào mà chỉ trái thương thôi
Thương bạn thương em thương mình chưa hóa kiếp
Thương dòng sông dùng dằng tội nghiệp
Thương con kiến mùa Thu xuôi ngược trên cành

Ly rượu ấm nâng bàn tay ấm
Ngỡ mình thành Thôi Hiệu mất rồi
Lầu Hoàng Hạc lầu trăng lầu gió đấy
Em biết không hoa điệp đã vàng rơi

Quán mùa nào mà tinh tú không quay
Không thở không buồn không quán tính
Một chút say sưa đường về còn câu thơ vịn
Một chút thành quên
Một chút thành nhân

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2009

Nhân làm quen với Gỗ Mun, tự cái sự lầm lũi (ai đặt tên này quả nhiên trình độ phiên âm đáng học hỏi)

1.
Đang hút thuốc nhìn xuống phố, nhìn dòng người chen lấn chậm chạm, lam lũ và nhẫn nại trườn đi về nhiều hướng, bất giác ngẫm nghĩ chuyện: ta đang đi về đâu? Đôi khi quan sát một tổ kiến, cũng thấy điều tương tự, những con kiến luôn luôn di chuyển, thường là nhiều hướng, thỉnh thoảng chúng chạm râu vào nhau, sau đó đi tiếp hoặc đổi hướng, cả triệu con kiến cứ như thế, lẫm lũi lầm lũi, trừ những lúc chạm râu vào nhau. Hôm nay tôi chạm râu Gỗ Mun cái, có đổi hướng tí đỉnh, dành hẳn một ngày để đọc blog, chiều về tôi chạm râu vợ, thế là ngày mai lại đường cũ, lầm lũi lầm lũi...cuối cùng thì sao?

2.
Cu Hà Văn sắp được 1 tháng còn chị Hà Thi của nó thì sắp sinh nhật 8 tuổi. Ai cũng thắc mắc sao đặt tên con là Hà Thi và Hà Văn. Tên hai đứa là do ta đặt, đặt từ ngày hai đứa còn nằm dưới...mắt cá mẹ. chỉ sợ bao nhiêu lo toan, yêu thương của mình dành cho chúng, rồi chúng lớn lên, lại như mình, lầm lũi đi và lầm lũi sống. Không được như thế, hãy sống đời biển, đời sóng, đời gió, đời sông nhé các con....hãy sống đời bão tố, ghềnh thách...hãy cuộn cuồn thương yêu và đam mê...hãy bao la và đầy ắp...tất cả những điều đó ta đã gửi vào tên hai con: Hà Thi và Hà Văn.

3.
Ngồi nhắc mấy thằng bạn cũ, sơ thâm có cả, đột nhiên nhớ một thằng mình chưa bao giờ biết tên (Dù có uống với nhau mấy lần), thằng này hiền và ham học (không phải típ của mình), có lần mình đi uống rượu về KTX, thấy nó say quá, chồm ra ban công lầu 7, hét toáng giữa đêm khuya: I believe I can fly, sợ tỉnh cả rượu, chỉ cần một ngọn gió có lẽ cũng khiến nó rơi, may có thằng bạn cùng phòng vồ kịp, trói nghiến nó vào giường. Hôm sau, gặp nó, nó cười: nếu tao không bay được thì tao sai. Hôm rồi gặp nó, (thực ra là nó nhận ra mình, lỡ không biết tên rồi nên cũng chẳng hỏi), bây giờ nó đi du học về, làm CEO cho 1 công ty nước ngoài, đi xe Mondeo có tài xế riêng, nhìn tướng tá có vẻ giàu. Vậy đó, có lẽ sau cú chạm râu với thần chết, nó đổi hướng và ngon lành hơn nhiều. Còn mình, sau lần chạm râu với thi ca, lầm lũi luôn tới giờ.

4.
Mình từng học võ, mấy năm trời được đào tạo là võ sĩ chuyên nghiệp, thời thanh niên đánh nhau suốt ngày, nổi tiếng cũng nhờ món này. Hôm qua trong hành trình lầm lũi về thì bị kẹt xe, kẹt cứng, kéo dài...chán chường. Xe trước nhích một chút là xe mình phải nhích tới, dù chỉ một chút. Có lúc thấy khoảng cách ít quá mình cũng không buồn nhích, nhường đường cho xe máy. Thế là có 1 chú taxi phía sau cứ thúc vào đít xe mình, mới đầu ủn nhẹ, sau chú ấy thúc mạnh. Mình nhìn qua kính hậu thì thấy chú ấy đang chỉ tay vào mình, miệng không ngớt chửi bới. Mình cười, nhích lên tí cho chú ấy vui. Nghĩ bụng: lầm lũi cả mà cũng dành nhau từng tí. Nếu cách đây 15 năm thì mình sẽ bước xuống xe, lôi cổ chú ấy ra và dần cho một trận ra trò. Nhưng như thế được gì. Lầm lũi cả mà.

Đọc Blog của Nguyễn Đức Hiển nhớ ngày xưa quá.

Ngày xưa, nhìn lại như nhìn vào một chốn xa xăm dĩ vãng nào đó, thực ra mới mười mấy năm. Mười mấy năm mà bao thay đổi.

Nhìn mình bây giờ khác quá, Vương Huy nói: “nhìn mày bây giờ xôi thịt quá”, hơi chát nhưng mà đôi khi ngẫm cũng đúng, vì bạn thì không khác gì năm xưa, chỉ cũ đi đôi chút, buồn hơn đôi chút, còn mình, mình trắng ra, mập lên hai chục ký, bớt uống hơn, bớt say hơn, bớt ngông hơn, bớt lang thang hơn và …bớt buồn hơn. Cứ lấy một câu cũ mèm ra sau cái chậc lưỡi đầy tâm tính: bận quá. Bận gì thì không rõ.

Hôm nay đọc blog của Nguyễn Đức Hiển, vẫn nhớ gọi tên mình, không phải cái tên độc một chữ “Phú” mà mọi ngày mọi người vẫn gọi, cái tên đầy đủ 3 chữ mà chỉ có những kẻ “bạn thơ” ngày nào gọi nhau. Đúng rồi, nó đó, nó đây nè, nó của ngày xưa. Muốn kêu lên thành tiếng cho Hiển nghe.

Ngày xưa, những ngày mười tám hai mươi, những ngày làm thơ, uống rượu và thang thang ngược xuôi, lên rừng xuống biển, nhắc bây giờ nhớ quá, thương quá, tự kể một vài chuyện, kẻo sau này, mười mấy năm nữa có khi không nhớ, thảng hoặc mới moi trong ký ức ra một mảng mà không chắp vào đâu được.

Một hôm, về nhà Huy, nhà ở ngay ngã tư Cai Lậy, nhà Huy nuôi chim cút lấy thịt và trứng nên cả mấy ngày đám bạn thơ ăn thịt và trứng cút với rượu trắng, rồi làm thơ, rồi hát, hát nghêu ngao dọc con đường vắng trong đêm thị trấn như những kẻ giang hồ đích thực. Hát rằng “Hồ trường. Hồ trường. Ta biết rót về đâu? Rót về phương Bắc, ngọn Bắc Phong vi vút…”, đại khái thế, nhắc lại bây giờ vẫn còn cảm ngất ngây như vừa mới đêm qua. Sáng ra uống café ở quán ngay chân cầu cũ, gần chùa, quán có hai chị em nhìn đậm vẻ miền tây, cũng xinh, ly café nhỏ xíu, nóng hổi cầm vừa bàn tay, ngon thiệt… Rồi Mỹ Tho, uống rượu ở công viên Lạc Hồng, rồi theo đò ngang qua Bến Tre, uống rượu trên đò, mỗi lần có tàu lớn chạy qua phải đưa tay nắm chai rượu lại, sợ đổ…rồi mưa nữa, chòng chành lắm. Về viết bài “Vọng cổ”:
Làm thân sông nên buồn như sông
Hãi hoặc những bến bờ mưa trắng tái

Hôm khác chơi nhà Nhựt, cái thị xã Mộc Hóa nó buồn thiệt, buồn đến nỗi ra đường là chỉ muốn đi uống rượu, sáng sớm đã uống. Bạn chỉ tay qua bên kia chợ: Bên kia là Miên (Cambodia), vô chợ người mua kẻ bán xôn xao, tiếng Việt tiếng Miên trộn lẫn, ăn một tô bún ngon nhất đời không biết gọi là bún gì, lần đầu tiên ăn thịt chuột nướng mọi, trời đất, nó ngon nhức nách, bắt mồi dễ sợ, đêm say ngất ngưỡng đi về ngang thị trấn, qua một nhà thờ với tháp chuông âm u, qua một bến sông, trăng loang mặt nước. Đẹp. Kết bài “Đêm Hạ Tuần ở Mộc Hóa” bằng câu này, sau này đọc lại thấy nó sến và hao hao thơ ai:
Trăng Hoàng Hoa xuống tắm bến Hoàng Hoa

Cho những bài thơ không đăng

1. Như những nụ hôn không lên môi nàng thơ, chỉ lên mắt, lên môi hay một bờ vai khẽ, của một tay làm thơ nửa mùa, tâm tư dăm nỗi buồn rất nhẹ. Không nắng cũng không mưa. Như tiếng hát cô hàng xóm lỡ thì, buồn vui không rõ, không thiếu phụ cũng chẳng còn thiếu nữ, như những gì còn lại phía sau lưng. Như là những dấu chân

2. Chúng chào đời hiền lành và trinh nguyên như cỏ, đẫm những sương tàn canh nhưng tia nắng mật những tiếng côn trùng và gió. Như tiếng trẻ con khóc nấc góc nhà, không quở mắng cũng không lời dành dỗ. Như giấc mơ từ yên cương ngựa gỗ, có phải anh hùng từ Hàm Tử Chương Dương.

3. Như những gã sơ giao, đã từng uống từng say từng hát, ở đâu? Long Khánh, Đông Hà hay Đồng Tháp? Đã hết mình và cũng đã quên. Như mơ ước một ngày nào đó, bao giờ là bây giờ? không rõ. Trở về nơi mình đã ra đi ngày ngậm ngải tìm trầm, như ngọn lửa lân tinh, âm ỉ cháy không tàn không đốm. Như biết mà như không

4. Nhưng anh thương. Như thương những đứa trẻ suốt đời thua thiệt, như thương chén trà Nguyễn Tuân những cầu kỳ tinh hoa cho mình mình biết. Nhưng anh thương. Những bài thơ không đăng là khúc tỳ bà hành khúc tiếu ngạo khúc hoan ca vênh váo, là câu chuyện kể trong một đêm không trăng sao tĩnh gió, là tiếng quạt của bà. Là một tiếng ầu ơ...

Tặng GoldMund

Hôm qua lên OS tình cờ bạn bảo "hình như em biết bác", thôi thì trước lạ sau quen nên lang thang vào blog của bạn. Wow, một blog đáng đọc nhất mà mình từng ghé qua, đọc say sưa, có đoạn sướng quá cười một mình.

Nếu xét về tuổi thì cũng trạc tuổi nhau thôi (mình lớn hơn), mà sao bạn tài giỏi thế nhỉ, đọc nhiều, nhớ nhiều, viết tốt, cảm nhận sâu sắc và đầy phong cách. Càng khen bạn càng nhận ra bấy lâu cái thằng mình đúng là "dở hơi biết bơi". Nhưng cũng không buồn lâu, mỗi người mỗi vẻ, mình được cái rất lạc quan.

Cảm ơn bạn cũng ghé "tệ xá" mặc dù mình chỉ có vài bài lèo tèo, chẳng đáng xem mấy. Blog của bạn như Maximax còn blog của mình, híc, như một quán nước lợp bằng lá tranh dưới chân đèo Chuối, heo hút và nghèo nàn. Thôi từ nay ráng dành 1 ngày vài chục phút pót mấy bài thơ cũ, để bạn có quay lại thì cũng né được cái chậc lưỡi: "giời, lão này chán..."

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...