Thứ Ba, 30 tháng 6, 2009

Thơ Cho Cổ Tích

Có dòng sông trong mắt em trôi
Anh ở đó với cánh buồm đỏ sẫm
Ba hạt dẻ hết rồi
Cũng không còn đôi hài vạn dặm
Anh sẽ dắt em đi trên vương quốc Mặt Trời

Phía cuối con đường một đám cỏ xanh lơi
Đã lưu lạc trên quê hương mưa châu nắng mật
Đã trổ vào thu những phiến thời gian xanh ngắt
Dưới chân cầu tình nhân soi bóng đôi

Chàng Hiệp Sĩ không còn, khiên áo đành thôi
Đành thắp đuốc phụ lòng Tuấn Mã
Phải chi Tô Thị, nàng ơi đừng hoá đá
Anh sẽ hát Chiêu Quân, đêm sẽ ngàn năm

Có một dòng sông trong mắt em trong
Anh ở đó tiếng tiêu xưa còn vọng
Mỵ Nương bây giờ nàng ơi còn khóc
Giọt nào rơi vỡ chén tương phùng

Có dòng sông những phiền muộn long đong
Anh ở đó. Cánh buồm và mặt trời trước mặt
Nơi hạ lưu giọt phù sa thơm như nước mắt
Của đêm qua công chúa khóc lâu đài

Ai hát trên đồi

...
Đó là một ngọn đồi bình thường bên lề quốc lộ, có một lối đi lên dài qanh co, được đắp kỹ bằng đất lèn có lót đá chẻ, đủ để thử thách mọi đôi chân dẻo dai nhất. Một ngọn đồi nằm quay mặt ra hướng biển, nhìn xuống đoạn quốc lộ vắng vẻ, tuyệt không một hàng quán, một nóc nhà nào.

Phía bên hông ngọn đồi thoải xuống là mấy dãy nho um tùm, hầu như không có trái vì đã hơn một năm nay không ai tưới tiêu gì. Cuối dãy nho dài là bờ sông, đoạn hướng ra cửa biển, nước cạn và lờ lợ theo từng con nước thủy triều. Đúng hơn đó chỉ là cuối nguồn của một con suối lớn chảy qua cây cầu nhỏ vô danh trên quốc lộ. Một nơi bình thường và buồn vắng. Không điện, không có địa chỉ, không có hàng xóm. Đầy gió và nắng.

Anh mua cả ngọn đồi này khi đi ngang qua đây trên chuyến xe tốc hành xuyên Việt, nơi được chọn để làm chỗ dừng xe cho hành khách xuống “xả hơi” mươi phút sau một hành trình dài. Anh thấy nó đẹp, mà hơn cả là nó hợp với anh. Anh nghĩ chị sẽ thích nó nhiều. Hơn một năm trước khi anh đến đây thì nó là một trang trại trồng nho xanh và nuôi thỏ của một gia đình có tám người con. Ba người con đầu kéo nhau đi vượt biên mười mấy năm trước, giờ quay về với chút tiền đã bảo lãnh cả nhà ra nước ngoài định cư. Đó là họ cứ thao thao bất tuyệt với anh đủ mọi thứ như vậy chứ anh nào có chú ý gì. Cái giá năm mươi triệu cho cả một ngọn đồi, một căn nhà ba gian mái ngói và toàn bộ vật dụng là khả dĩ chấp nhận được. Anh không cò kè một đồng nào. Giấy tờ được sang tên cho anh sau khi anh dọn về được mươi hôm.

Vắng thật. Ở đây cái vắng lặng kéo dài và xa xăm đến vô cùng. Thỉnh thoảng chỉ có tiếng động cơ xe rít lên ngoài quốc lộ kéo theo một luồng khói bụi nhỏ, mờ dần rồi khuất hẳn phía bên kia cầu. Chỉ có vợ chồng ông già người Chăm bán tạp hóa phía trên mỗi tuần ghé lại để cho anh ít đồ dùng. Một cây thuốc lá, một lạng trà, hai chai rượu, tiêu hành ớt tỏi… Tiền thì anh đã đưa họ trước một triệu, cứ thề trừ dần.

Rồi anh về tận quê chị ở cách đó chừng hơn trăm cây số, đưa chị về ở chung. Chị vui lắm, căn nhà bắt đầu ấm lên vì anh cười nói suốt ngày. Anh chỉ cho chị xem mọi chỗ trong nhà, ngoài vườn, giếng nước, chỗ anh thường uống trà nhìn xuống thấy cả biển và cái cửa sông vô danh. Anh thấy chị cười. Nụ cười vẫn cứ buồn buồn như khi anh mới làm quen chị lần đầu mấy năm trước nhưng chừng như có ánh lên chút long lanh, chút hy vọng mới. Anh nói: cuối cùng mình cũng làm được. Có gì khó đâu em, mình cũng chỉ từng ước mơ như vầy thôi. Rồi anh thả hết lũ thỏ trong chuồng vào vườn nho dại, cắt mấy chùm nho sót trái xuống cho chúng ăn thỏa thích, thả luôn cả con khỉ con của chủ nhà cũ vào. Chim chóc cũng kéo về làm tổ đầy trên mấy dàn nho um tùm. Cho nó thêm màu xanh, anh làm theo ý chị.

Ban ngày lúc nước lên cao anh thường ra câu cá chỗ chân cầu. Cần câu anh đã có sẵn ba cái, bộ dồ nghề câu của anh mang từ Úc về chắc đủ dùng đến cuối đời. Mồi câu là cơm nguội bóp với ngũ vị hương. Anh câu được đủ loại cá, mà anh chả biết gọi tên là gì. Cá câu về thường anh chỉ làm độc một món: Nướng. Vậy mà chị vẫn khen anh khéo làm bếp. Thường ngày anh chị ăn có khi hai, có khi ba, bốn lần cơm. Vô chừng lắm. Chị thích thế. Chẳng có gì ràng buộc. Bầu, bí, mướp còn đầy bên cái giếng nước sau vườn. Thích ăn gì nấu nấy. Bếp lửa nhà anh luôn có khói lên như anh vẫn thường mơ ước ngày xưa. Chỉ có điều không có đứa con, nhưng mà cũng không sao vì anh chỉ cần có chị.

Chị vẫn cười với anh mỗi khi anh đi câu về. Nụ cười vẫn một vẻ như vậy nhưng anh biết chị vui. Mà bây giờ đối với anh, anh chỉ cần chị vui.

Anh quen chị từ khi còn học nội trú ở Thủ Đức. Anh thường ra uống cà phê ở quán của chị, hay đúng hơn là chị phụ bán ở đó. Anh thích chị vì giọng nói miền Trung nhỏ nhẹ, đôi mắt cười buồn buồn. Nói chung không rõ ràng nhưng anh chỉ biết mình cảm thấy thích chị nên anh lui tới quán hầu như mỗi ngày.

Quán chỉ có hai vợ chồng, một thằng em bà chủ và chị. Chị là cháu kêu ông bà chủ là Cậu Mợ, chắc có bà con vì nghe giọng nói cả nhà đều âm hưởng Miền Trung. Chị không đẹp, da hơi ngăm, tóc dài, mũi hếch, mắt mí lót. Bàn tay chị lại bị phỏng từ cánh tay xuống tạo nên một vết sẹo lớn trông rất xấu. Nhưng anh vẫn thích chị. Khi yêu nhau rồi chị hỏi tại sao anh vẫn thật tình không giải thích được. Hoàn cảnh của chị thật khổ. Mỗi chuyện chị kể cho anh nghe sau này khi nhớ lại anh đều chảy nước mắt. Khổ quá

Cha mẹ chị mất khi chị vừa hai tuổi, ngay khi đất nước vừa hòa bình. Một trái mìn còn sót lại sau mấy năm chiến tranh đã biến họ thành từng mảnh xương thịt rời rạc. Bà ngoại nuôi chị lớn chỉ bằng khoai lang, rau lang và tép kho mặn. Thứ tép Miền Trung nhỏ xíu như cây tăm mà người siêng năng đi xúc một ngày chỉ được chừng hơn nắm tay. Từ nhỏ chị đã gặp đủ thứ nạn: Té xuống từ mái nhà, chìm đò, phỏng nước sôi… rồi đủ thứ bệnh của con trẻ mà bà ngoại chỉ biết cho chị nhai Quế khô rồi xức dầu nóng cho qua cơn. Vậy mà chị vẫn lớn lên được.

Có lần chị đi chăn bò cho nhà xóm trên, mải chơi thế nào để bò ăn lúa của ông Trưởng Aáp, bị ông ta lấy ngọn roi mây còn nguyên gai đánh cho tứa máu khắp người. Đêm về bà ngoại xức dầu cho chị mà nước mắt bà chảy hai hàng, bà nói cái số con này chỉ có chết mới hết khổ thôi. Khổ quá con ơi.

Rồi bà cũng mất mấy năm sau đó. Chị phải đi làm thuê làm mướn đủ nghề để kiếm cơm sống qua ngày. Có ông Cậu họ về chôn bà trong cái chiếu duy nhất trong nhà rồi thỉnh thoảng ghé cho chị ít bánh trái, hoặc dăm ba đồng lẻ. Rồi mội đêm tối trời ông cậu mò về nhà, người sặc mùi rượu đã giở trò đồi bại với chị. Mới mười bốn tuổi đầu chị có biết gì đâu. Chỉ biết đau. Đau quá. Sáng ra ông cậu cho chị năm phân vàng dặn chị đừng nói gì. Chị cũng im.

Rồi chuyện đó cứ thỉnh thoảng lại tiếp diễn đến hơn năm trời thì chị bắt đầu khó ở. Chị có thai. Mới mười lăm tuổi đã có thai. Chuyện ông cậu đi về rồi cũng đến tai bà mợ ở huyện. Bà cùng đứa con gái và một người em kéo tới nhà đánh chị một trận thừa sống thiếu chết. Họ lột trần chị, đá vào bụng cho cái thai chết đi, rồi họ cắt tóc, xát muối ớt vào mắt chị. Đủ trò ác độc. Mấy người trong xóm cùng anh công an xã đưa chị đi cấp cứu ở Huyện. Ông cậu lén lút nửa đêm vào thăm, dúi vào tay chị năm chỉ vàng. Chị cười buồn bã. Chỉ phải mổ hai lần mới bình phục, nhưng chuyện có con như bao người phụ nữ khác sẽ không còn nữa.

Vậy đó, rồi chị lưu lạc vào Sài Gòn theo sự chỉ dẫn của một người bà con tốt bụng để tìm một ông Cậu họ khác, phụ bán cà phê. Hai năm sau ngày quen nhau anh mới nắm bàn tay chị. Bàn tay có vết sẹo dài, sẫm màu và xấu xí ấy làm anh cảm thấy hết nỗi cơ cực trong con người chị. Anh thương chị quá nhưng chỉ biết vậy, đời anh anh còn chưa lo xong làm sao tính chuyện khác được.

Chị làm việc hầu như từ tảng sáng đến tối mịt không lúc nào rảnh rỗi để có thể cùng anh hẹn hò, mỗi khi anh tới chị chỉ mang ra cho anh một ly đen nóng như lệ thường và kèm thêm một ánh mắt trìu mến, đa cảm hơn mà thôi. Rồi một ngày lúc anh vừa bắt đầu thời gian thực tập tốt nghiệp thì hay tin chị bị đuổi. Cậu mợ chị bị mất ba trăm ngàn đồng và họ cho rằng chị lấy nên đã lén lục tung đồ đạc của chị, thấy có mấy chỉ vàng họ càng thêm nghi ngờ chị đã ăn cắp tiền của họ nhiều lần. Mặc cho chị van xin thế nào họ cũng không nghe, hai người lột lấy hết tiền vàng của chị và đuổi chị về quê. Quá đau đớn, chị không thể khóc thành lời, đôi mắt dại đi, xa xăm dần. Anh đi tìm chị suốt đêm mới gặp được chị ở bên đường quốc lộ, đói lạnh và đau khổ. Lần đầu tiên anh ôm chị trong tay và hôn lên môi chị, hôn lên bàn tay đầy sẹo của chị, hôn lên đôi mắt đã đờ đẫn vì đau khổ của chị. Anh nói trong nước mắt: Thôi đừng buồn nữa, từ nay có anh rồi…

Anh tìm một chỗ trọ rẻ tiền để chị ở tạm, rồi hằng ngày anh đến thăm, chở chị đi chơi đây đó bằng chiếc xe máy cà tàng của anh. Có lẽ đó là thời gian hạnh phúc nhất của chị mà cũng là của anh nữa. Biết bao nhiêu nơi họ từng ghé qua, công viên, bến tàu, rạp chiếu phim… biết bao nhiêu kỷ niệm mà sau này khi nhớ lại anh vẫn mỉm cười sung sướng. Chị thường gục đầu vào ngực anh rồi mỉm cười. Nụ cười vẫn y như vậy, vẫn là nét buồn cố hữu có pha chút hạnh phúc vừa chớm. Anh biết đàn guitare. Anh thường đàn hát cho chị nghe đến khuya. Những bài hát chị thích và những bài cả hai cùng thích, cả những bài anh thích mà chị không thích. Anh đàn không hay, ngón đàn chỉ học lõm từ những ngày nội trú nhưng đối với chị thì tuyệt vời lắm.

Mấy người quanh nhà trọ vẫn thường tấm tắc khen anh chị đẹp đôi. Những lúc như vậy mắt chị lại long lanh thêm một phần. Anh cố gắng chạy tìm việc cộng với chút học bổng còm cõi để nuôi hai miệng ăn, tránh cho chị phải đi làm. Anh hứa sẽ không bao giờ để chị khổ nữa. Chị gật đầu, nhớ lại câu nói của bà khi còn bé. Bất giác thở dài.

Họ ở với nhau chừng hơn hai năm. Hai năm hạnh phúc tưởng chừng như bất tận. Họ mơ ước về một gian nhà đơn sơ, có vườn cây xung quanh, có giếng nước trong, có hàng dâm bụt chạy quanh sân. Một mái nhà yên bình có trồng nhiều hoa, vài loại rau, có khói tỏa lên từ chái bếp… Đêm đêm anh đàn hát cho chị nghe bên tách trà thơm, dưới giàn hoa thiên lý hay bất cứ hoa gì mà anh có thể trồng. Bao nhiêu mơ ước giản dị và đẹp đẽ đã cùng họ dệt nên một bức tranh tương lai, nơi không còn bất cứ nỗi buồn nào ánh lên trong đôi mắt chị.

Rồi anh được công ty cử đi học ở Úc sáu tháng. Anh lưỡng lự bàn với chị xem có nên đi hay không. Chị bảo anh cứ đi, tất cả vì tương lai hai đứa thôi. Mơ ước là mơ ước, còn mình phải sống cho hiện tại nữa. Chị động viên anh đi học để lo cho tương lai sau này vì sau khi đi học anh sẽ được cất nhắc lên chức vụ cao hơn, thu nhập cao hơn nhiều so với hiện nay. Anh khăn gói ra đi, để chị lại một mình trong căn phòng trọ với số tiền dành dụm để chị chi tiêu.

Mấy ngày đầu anh viết thư, gọi điện về liên tục. Anh nhận thấy hình như chị có vẻ kém nhiệt tình hơn trước nhiều. Anh buồn nhưng không dám nói ra. Rồi những lá thư cuối không thấy chị trả lời. Anh nóng ruột lắm, chỉ mong đến ngày về để hỏi chị tại sao.

Anh về đến phòng trọ lúc tảng sáng. Căn phòng khóa trái từ bên ngoài. Anh bàng hoàng đứng lặng bên cạnh cả đống quà anh mua cho chị. Những chiếc váy xinh xắn, chiếc cài tóc, cái máy ảnh, máy CD…Bà chủ nhà trao chìa khóa cho anh: Cô ấy vừa đi cách đây hai hôm, cổ có trao lại cho cậu bức thơ này. Anh nhận ra nét chữ nghuệch ngoạc của chị. “Anh. Em không thể tiếp tục giấc mơ của mình. Chúc anh nhiều hạnh phúc. Đừng tìm em.” Anh không hiểu chuyện gì cả, anh lục tung tất cả đồ đạc trong phòng để tìm một dấu vết. Không có gì. Không có ai đến thăm chị trong những ngày anh đi vắng. Chị đi đâu. Không ai biết.

Anh lái xe lang thang khắp nơi tìm chị. Anh hỏi từng người dù quen hay không quen. Có người nhớ ra anh nhưng cũng nhiều người không nhớ. Họ nói anh điên.

Anh đến tất cả những nơi họ từng ghé qua, hỏi cả quán cà phê nơi chị từng phụ bán. Bà Mợ chị vẫn vậy, cười khểnh: chắc bị nó lấy hết tiền bỏ đi rồi chớ gì. Anh muốn đấm vỡ mặt bà ta. Anh bỏ cả công việc để đi tìm chị. Đường gần, đường xa bặt vô âm tín.

Ba năm sau ngày chị bỏ đi. Anh tưởng chừng như đã bắt đầu một cuộc đời mới. Không có chị. Anh có một việc làm tốt, lương cao. Anh mua được một căn nhà nhỏ, sống một mình. Rồi tình cờ anh có tin của chị. Thằng em bà chủ quán cà phê năm xưa bây giờ lại vào làm việc cho công ty anh. Khi về quê xác nhận giấy tờ nó đã có tin về chị. Anh sống lại những ký ức năm nào, trọn vẹn đến từng cảm xúc nhỏ nhất, cứ như anh đang ngồi cho chị đơm lại cái cúc áo cho mình, cứ như anh đang đàn cho chị nghe bài “đêm đông”, mặc dù anh biết chị không thích bài này. Thì ra chị bị bệnh, một căn bệnh không thể chữa bằng cách nhai Quế khô và xức dầu nóng… Chị bỏ về quê để tránh cho anh hay. Trời ạ sao anh không nghĩ ra lúc đó nhỉ. Mà thật tình anh cũng không bao giờ hỏi chính xác quê chị ở đoạn nào, làm sao biết mà tìm. Còn một chuyện mà thằng em bà chủ cũng thú thật với anh là năm xưa chính nó đã ăn cắp tiền của bà chị. Nó rất ân hận khi thấy chị bị oan nhưng nỗi sợ hãi lớn hơn cả lương tâm nó, khiến nó không dám thú nhận.

Vậy là anh bỏ việc tìm về quê chị. Nhờ sự giúp đỡ của anh công an xã và vài người tốt bụng anh cũng tìm đến nơi chị ở, mái nhà của bà ngoại chị năm xưa. Bây giờ nơi này cũng thuộc quyền sỡ hữu của ông cậu đã làm nhục chị lúc mười bốn tuổi. Ông đã ly dị vợ về ở đây với chị.

Anh bán nhà, đem chị vào đây. Anh xây lại từng viên gạch cho giấc mơ năm xưa. Một mái nhà ngói ba gian, giàn thiên lý có bộ bàn uống trà nhìn ra biển lớn. Cái giếng sâu, nước trong có trồng đầy bầu, bí..vài chậu hoa huệ đất, hoa môn, một vạt mười giờ…

Trên đồi cao anh chị bên nhau, có nhau mãi mãi. Anh nói: Đó em thấy không có gì khó đâu, rồi mình cũng làm được hết. Anh sẽ sửa lại căn bếp cho thoáng để khói bay lên cao, anh trồng thêm vài cây dừa để tránh gió, chớ gió lớn kiểu này có ngày tốc mái quá. Chị cười. Vẫn nụ cười năm xưa.

Anh thường đi câu lúc nước lớn. Nhưng ở nhà anh vẫn để lửa cháy trên bếp để có thể từ xa nhìn về căn nhà của mình, có chị nơi đó. Đêm đêm, anh thường uống rượu, uống chút đỉnh để đàn hát cho chị nghe. Tiếng đàn hát nơi vắng vẻ này cũng làm yên lòng mấy vị khách đi xe đò dừng lại “xả hơi” dưới chân đồi. Nhiều đêm anh anh vừa đàn, vừa hát, vừa trò chuyện cùng chị. Anh nói: Em không bao giờ khổ nữa, anh hứa mà.

Rồi anh anh cười. Anh cười vì thấy chị cười, anh cười mà hai hàng nước mắt chảy dài trên khuôn mặt đen sạm, gân guốc. Chị nhìn anh trìu mến, mỉm cười. Vẫn là nụ cười buồn buồn và xa xăm. Nụ cười từ trong bức ảnh màu sau lớp kính dày trên tấm bia mộ trước sân. Chị nằm đó. Vĩnh viễn có anh. Vĩnh viễn không bao giờ đau khổ.

Rồi anh lại hát. Hát ru chị ngủ. Hát mấy bài chị thích, mấy bài cả hai cùng thích và cả những bài anh thích nhưng chị không thích. Tiếng hát rên đồi vắng đầm ấm, vang xa theo ngọn gió tràn từ ngoài khơi…

Nghĩ về Thơ hôm nay …

Tôi từng viết nhiều Thơ và vẫn còn viết. Tôi từng đọc nhiều Thơ và vẫn còn đọc. Không thể nói là tôi biết nhiều, nhưng cũng có thể nói điều tôi biết là của tôi, tôi muốn chia sẻ trên trang Web này đôi điều cùng mấy người bạn Thơ và những bạn đọc tâm huyết cùng Thơ.

Đọc một bài thơ hay thật là hạnh phúc, nếu ai đã từng có cái cảm giác đi lạc trong rừng, giữa muôn vàn hoa trái bỗng nhiên tìm đúng thứ trái mình thích, ăn vào thỏa lòng, thì mới hiểu cái cảm giác của người đọc Thơ khi tâm đắc một bài Thơ nào đó. Nói cho cùng tâm hồn người đọc lúc này đã giàu cảm xúc lăm lắm, và bỗng nhiên nhận ra tất cả hoặc một phần nào đó trong những câu, những chữ mình vừa đọc. Như một người mù chạm vào từng vật dụng quen thuộc, tất cả bỗng ngời lên. Rõ ràng và lung linh trước mắt.

Tự tôi, tôi quan niệm tâm hồn mỗi con người là một Chủ thể của Thi ca. Ở đó có tất cả. Tình yêu và hận thù, niềm vui và nỗi buồn…đan xen, vươn vọng hoặc trầm tích đâu đó. Trong thế giới của Thi ca, cảm xúc được họa lên bằng từ ngữ, nhịp điệu trên tấm vải trắng tinh, thuần khiết của sự cảm nhận và chia xẻ. Dó đó không thể trách người đọc không còn đọc thơ, chỉ có thể coi Thơ mình như thứ quả chín lạc mùa, lạc chỗ.

Trong nhiều người bạn Thơ cùng thời với tôi, tất cả đều nhìn tôi bằng con mắt dành cho kẻ ngoài cuộc, dù trong đó có nhiều người thật bụng tâm đắc Thơ tôi. Tôi không buồn. Nhìn những người đọc báo rất kỹ lưỡng từng mục (kể cả mục Cáo Phó hoặc Tìm Người Thân) mà không thèm liếc qua trang Thơ, tôi cũng không buồn. Bởi vì Thơ là thứ nghệ thuật đặc biệt không nằm trong phạm trù xuất bản, giống như bạn đi trên phố đông người, nhìn ngắm nhiều người, trò chuyện cũng lắm nhưng có bao giờ bạn có ý định kết thân với một trong số họ?

Mỗi năm có biết bao nhiêu tập Thơ được in, bạn bè ai cũng bảo tôi nên in một tập. Tôi nói không. Thơ tôi, tự tôi biết nó không thích hợp với số đông, nếu không nói là lạc lõng. Tuy tôi chưa có những phá cách thần sầu kiểu anh Lý Đợi, hoặc Nguyễn Hữu Hồng Minh, nhưng cũng như người đánh trống có bao giờ so sánh mình với một Cầm Thủ bao giờ. Đôi khi ngồi với nhau bàn về Thơ, có người bảo: Thơ đang Chết. Rồi cũng có vài người loay hoay đi cách tân Thơ, sáng tạo Thơ, đem Triết Học. Mỹ Học, Kiến Trúc, Hội Họa hay thậm chí cả Toán Học, Hóa học vào Thơ để làm thay đổi một diện mạo, khấy sóng một trào lưu Thơ. Tôi vẫn là kẻ ngoài cuộc. Tôi không trung thành với lối thơ diễn dịch kiểu cũ, cũng không cách tân đến vô hồn kiểu mới, nên tôi cứ bị xem là kẻ ngoài cuộc. Nhưng Thơ mà, cũng như tình yêu, chỉ cần có một tâm hồn là đủ.

Tôi thương bạn bè mình nhiều, lớn có anh Vũ Ngọc Giao, anh A Khuê… bằng bằng có Vương Huy, Lê Quý Nghi, Minh Trường, Lý Đợi…những người mà ngoài tình bạn tôi còn dành cho họ sự kính trọng vì tâm huyết và tình yêu đối với Thi ca của họ. Những lúc gặp nhau, quanh chén rượu, tôi thấy ấm áp lạ thường. Tôi thích nghe họ đọc Thơ. Mỗi người một giọng Thơ. Thơ đọc cho nhau nghe khác hẳn Thơ trên báo. Nó giống như một món đồ thủ công được làm tặng riêng cho mình. Trân trọng lắm. Tôi cũng hằng mong ước Thơ được phổ cập lại trong lòng bạn đọc như ngày xưa, để bạn bè lại cùng tìm tên nhau dưới những bài thơ đăng đâu đó trên các báo.

Thơ không như nhiều người lầm tưởng như là một điều gì thật lãng mạn, mơ mộng của đời sống, cho nên trong con mắt thiên hạ người làm thơ thường được coi là người lãng mạn, nhiều khi đến hão huyền. Điều này không hẳn. Tôi quan niệm về Thơ đơn giản chỉ là cái đẹp. Cái đẹp của đời sống ánh lên sau từng con chữ như một thứ ngọc mà người làm thơ đã chọn ra, cất công mài giữa, đánh bóng và đặt vào nó một chút gì đó mang dấu ấn cá nhân trong tâm hồn mình, bằng tình yêu của mình…Đôi khi có những bài Thơ lung linh, quang phổ một cách giả tạo nhờ tài đánh bóng thái quá của người làm Thơ, nhưng hầu hết sự huyễn hoặc, huyền ảo hay ngời sáng lên là nhờ chính ánh sáng của đời sống, của tâm hồn, của tình yêu mà nó phản xạ…

Cuộc sống mưu sinh lôi tôi vào vòng quay cơm áo, đôi khi như một cơn lũ mà những người trẻ như tôi khó lòng thoát ra khỏi, nhưng tôi vẫn làm Thơ, vẫn đọc Thơ. Giống như một thứ quán tính của đời sống, tình yêu của tôi dành cho Thơ đôi khi quá hờ hững, nhưng chung thủy như một thứ tình cảm bầy đàn của loài di trú. Những vần thơ luôn có sức hấp dẫn của nó, sức hấp dẫn của một đời sống khác, tâm linh hơn và đẹp hơn. Cuộc sống cho dù thế nào thì những viên-ngọc-thơ vẫn còn nhiều lắm chung quanh chúng ta, dù ở một dạng khác, hoặc thô mộc quá hoặc đã bị biến thể cùng những đổi thay, nhưng ta vẫn nhận ra nếu để cho tâm hồn mình lắng lại, trong suốt và chờ đợi một phản quang, một vọng âm nho nhỏ từ đời sống…

Sài gòn tháng Chạp hai ngàn lẻ ba

Mười năm (2)

Cho em

Mười năm đi hết bao nhiêu phố
Líu ríu dìu nhau qua giấc mơ
Anh từ một sáng ôm mưa gió
Bên quán chờ em trao gió mưa

Đã biết làm thơ nghèo túng lắm
Trao duyên em có đắn đo chưa?
Đường xa mưa bão theo từng dặm
Vẫn hát chờ nhau dọc bến mùa

Vẫn hát chờ nhau như sóng nổi
Trong mấy ngàn nụ hôn qua môi
Trong mấy ngàn đêm cùng tránh gió
Trong mấy ngàn bài thơ tuyệt vời

Đã biết làm thơ nghèo túng lắm
Anh chỉ có một tình yêu cho em
Nhà mình hoa nở ngoài sân trước
Mấy bận mưa về ghé qua đêm

Từ ngày sóng cuốn về Sông Hậu
Anh biết Tô Châu ở xứ mình
Chỉ biết làm thơ và uống rượu
Để thấy tình yêu em lung linh

Từ chuyến say sưa trong sương bụi
Hay chìm trong ánh lá vàng rơi
Tay nâng chén rượu lên đầu núi
Xin quá giang em đến cuối đời


Sài gòn tháng mười hai ngàn lẻ tư

UỐNG RƯỢU Ở KINH THÀNH

Những chén rượu hoa vàng lịm giọt
Cứ tràn qua môi anh tràn qua môi anh
Sông Đuống dài sương sa gió buốt
Cuồn cuộn say sưa đêm kinh thành

Thâm trầm gió và thâm trầm ánh sáng
Từ rêu phong phiến gạch Đại La thành
Cả ngàn năm sông Hồng rượu trắng
Chảy tràn trề trong giấc mơ anh

Ngày sánh gió những âu lo chìm mất
Anh bay trên những bãi ngô dài chim sẻ nâu
Bay qua thoảng những phố phường xưa cũ
Thấy phong lưu mình trên mái Hậu Lâu

Đêm uống rượu kinh thành say quá
Nghiêng mặt hồ lấy Tháp Bút làm thơ

Hà Nội, mùa đông 2004

Xin làm thơ vào lúc khác

(Tặng các bạn thơ)


Xin đừng làm thơ trong văn phòng đừng làm thơ ngoài phố
Đừng làm thơ khi suy nghĩ đừng làm thơ sau bữa ăn
Xin hãy làm thơ vào lúc khác …

Xin hãy làm thơ khi giọt mưa đầu tiên rơi trên tóc
Và lăn trên mặt mình lăn trên mặt mình
Hãy làm thơ sau một cơn mơ dài chợt thức
Muốn quay lại hành trình cho kịp chuyến bình minh

Xin hãy làm thơ khi uống ly rượu ngon
Như đổ một dòng sông thác ghềnh vào trong ngực
Hãy làm thơ khi bắt đầu châm điếu thuốc
Thở ra mây trắng thở ra sương mù

Xin hãy làm thơ khi thấy cỏ đẹp hơn hoa
Thấy lau lách đẹp hơn bonsai
Thấy cây lúa non trổ đòng như thiếu nữ
Hãy làm thơ khi trăng tròn cuối vụ
Một con sếu bay qua nhiều con sếu bay qua

Xin hãy làm thơ những lúc thật buồn
Để trái tim rung lên những tiếng vĩ cầm
Như ánh nắng đầu tiên của một ngày rạng dần trên mặt

Xin hãy làm thơ vào lúc khác
Lúc thật hoang vu nghe suối chảy trong lòng

Uống rượu ở Biên Hòa

(Tặng các em gái dễ thương Biên Hòa ... )

Ở đây buổi chiều dòng sông rộng
Ly rượu cay sóng sánh Cầu Ghềnh
Ở đây buổi chiều gió lộng
Hoa cười chen theo nhau hồn nhiên

Rót cho anh thêm một cơn mưa lũ
Thả khói xa xăm theo triền sông
Ly rượu hạ nguồn men phủ dụ
Ai hát bên chiều sương thu phong

Say quá đường sông trôi chếch choáng
Anh về con nước thủy triều lên
Chào Biên Hòa những con đường rất lặng
Hẹn mai ... rượu sóng sánh Cầu Ghềnh

Tháng 8/2004

Tửu Hứng

Tặng anh Hùng R.-Hà nội

“Cuộc đời cạn mà chén rượu thì đầy”
Cương chùng lại cuối đường mây trắng phủ
Ai vừa đốt trong lòng ta đống lửa
Ta rót vào thêm mấy dặm vó cuồng say


“Cuộc đời chật, chén rượu thì mênh mông”
Có hơi ấm bàn tay người tri kỷ
Bầu rượu nhỏ mà rót tràn mộng mị
Đêm men nồng rừng núi đẫm mùi thơ


“Cuộc đời cuồng chỉ mình ta tri lý”
Tiếng đàn. Tiếng đàn reo trong ta
Đây ta rót chén thác ghềnh hùng vĩ
Thành những thăng trầm đêm Hoan ca


“Cuộc đời xa mà chén rượu thật gần”
Đây ta hát bài ca loài hoang thú
Say giữa sóng Trường Giang vần vũ
Ta nằm nghe Trái đất cuồng quay…

Say-11-2003

Sinh nhật trăng

Cho Hà Thi 20/09/02

Có những người sinh ra để yêu nhau
Để rồi sinh ra những người yêu nhau khác
Như loài cỏ xanh mọc lên từ đất bạc
Một hôm nào chợt hóa thảo nguyên xanh

Ta đã yêu con từ khi con chưa chào đời
Từ những nhịp đầu tiên con tập làm con trẻ
Và ta sẽ yêu còn nhiều hơn thế
Bằng cả tình yêu nhân loại đã yêu nhau

Con sẽ bay đi bằng đôi cánh ước mơ ta
Sẽ hát lên bằng tâm hồn của Mẹ
Sẽ yêu thương loài người như thể
là con sinh ra để được yêu thương

Bằng những ngón tay xinh
con sẽ nâng niu
sẽ xoa dịu mọi nỗi đau thương trần thế
Bằng một tuổi đời đầu tiên, con khẽ
chạm trổ cho mình từng hạnh phúc giản đơn

....
Có những người sinh ra để yêu nhau
Để rồi sinh ra những người yêu nhau khác
.......

Mưa trên đường Nguyễn Du

Cho em

Thản nhiên không còn vội vã
Nhìn mưa trong quán cà phê
Gió vùi tung từng tán lá
Hàng me đau đáu hàng me

Thản nhiên con đường ướt sũng
Nhớ mình những năm hai mươi
Trên bàn tay anh rất vụng
Rơi lanh canh một giọng cười

Bài hát này sao hay quá
Ly cà phê này sao ngon quá
Cô gái đằng kia thật xinh
Trên đường Nguyễn Du thật tình

Lâu lắm mới từng như thế
Nhìn mưa trong quán cà phê
Làm thơ từng vần bập bẹ
Bay về hóng chuyện lá me

Tiếng mưa trên đường quen quá
Chạm đến từng đầu ngón tay
Quay mặt nhìn mình hóa lạ
Thản nhiên hết cơn mưa này

Từ Thơ

Những điều cây lá nói
Anh đâu nghe bao giờ
Chỉ mình cơn mưa biết
Anh đang ngồi làm thơ

Bài thơ từ phương Bắc
Qua mấy chuyến sông dài
Từ trong anh dìu dặt
Thơm như là Ban Mai

Bài thơ cùng bão tố
Tràn về qua biển Đông
Ngực căng đầy sóng gió
Nghe mình xanh mênh mông

Thơ núi rừng hoang vu
Chìm phương tây vững chãi
Anh làm con thú hoang
Tiếng gầm vang xa mãi

Thơ điệu đàn vọng cổ
Phương Nam lý Chiều Chiều
Có một điều mầu nhiệm
Phải chăng là tình yêu

Những lời cây lá nói
Anh đâu nghe bao giờ
Vậy mà chúng vẫn nói
Trong khi anh làm thơ

Chỉ còn cơn mưa biết
Cơn mưa cũng đi rồi
Anh suốt đời thua thiệt
Về làm thơ suông thôi

Sinh Nhật Cầu Vồng (12/10/2005)

Cho sinhnhật TNT(Tên người chớ không phải thuốc nổ)

Anh đã đến đã từng cuồng như bão
Hay âm thầm như một ngọn thủy triều
Bao thương nhớ thẫm xanh rừng xích đạo
Quà cho em vẫn một tình yêu

Quà cho em một hành tinh vô ưu
Hai cánh tay vẫn vươn ra cuồn cuộn
Nỗi sợ hãi chạm vào ngực anh rơi xuống
Đêm lam hồng trời đất vẫn yêu đương

Quà cho em gã làm thơ say khướt
Trên lộ trình dài chờ gió bụi mang về
Chờ em gọi những mùa thu nhung mượt
Lá vàng bay phủ lối đam mê

Quà cho em là ngày yêu ngày nhớ
Ngày đơm hoa trên mỗi tiếng cười
Anh làm xin con dã tràng trả nợ
Lấp biển buồn bằng những niềm vui

Quà cho em ngày sinh nhật cầu vồng
Những màu hoa màu nắng màu mưa gió
Còn tình yêu em anh nghe màu hóa Đỏ
Vẫn chảy trong mình như những dòng sông

Sài gòn tháng mười hai ngàn lẻ năm

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...