Thứ Tư, ngày 04 tháng 2 năm 2015

Ba Xô lấy vợ,

Ba Xô lấy vợ,


Ba Xô tên giấy là Trần Văn Xô, hổng phải con thứ ba, mà do hồi xưa Ba Xô bị bịnh, đi chữa cháy cho một nhà trong xóm, đang cảm lại sặc khói, chạy ra phụ xách nước, xách đúng ba xô nước thì lăn ra xỉu, từ đó kêu bằng Ba Xô, chết tên. Bạn bè kêu Xô-Xích-Le, tức Xe Xích Lô, bị Ba Xô hành nghề đạp xích lô, đạp từ lâu lắm, từ thời trai trẻ tới giờ, có bị cấm một thời gian nhưng giờ cũng ra đạp lại.

Ba Xô có vợ, hổng biết tên con gái, cũng kêu bằng chị Ba Xô, chị Ba Xô vắn số mất sớm, sanh được đứa con gái mới đi lẫm chẫm thì chị mất. Ba Xô ở vậy đạp xích lô nuôi con gái lớn lên. Được cái con Gái nó cũng được má nó độ, lớn lên xinh đẹp, học hành tuy không giỏi nhưng cũng sáng dạ, năm nào cũng có giấy khen, lớp tám đã theo người ta buôn bán kiếm tiền phụ cha. Con Gái năm nay hai ba tuổi, coi như chị Ba đi đã chẵn hai chục năm, mà Ba Xô không đi bước nữa, cũng không hề bồ bịch trai gái, chỉ lo đạp xích lô nuôi con Gái.

năm nọ xích lô bị cấm, Ba Xô ở nhà riết cũng quỡn, mới theo người ta tụ tập nhậu nhẹt, rồi bị bịnh, cũng nặng, nằm viện chừng ba tháng. Thời gian nằm viện thiệt khó khăn, mớ thì tiền thuốc, tiền viện phí, rồi con Gái phải ra vô chăm sóc, bà con cô bác cũng có giúp mà hổng thấm bao nhiêu. Con Gái phải chạy làm thêm, rồi ra trước cổng bịnh viện xếp hàng lấy cơm miễn phí của hội từ thiện ăn qua ngày. Đến bữa khỏi bịnh thì còn thiếu bịnh viện đâu chục triệu, con Gái chạy vạy khắp nơi mà chưa lo được tiền, nó lén ra ngoài sân ngồi khóc miết. Tự nhiên bữa sau bịnh viện thông báo là viện phí có người trả rồi, một người hảo tâm nào đó, không để lại danh tánh, cha con Ba Xô mừng chảy nước mắt.

lúc hết cấm xích lô, Ba Xô là người đầu tiên chuộc xe chạy lại, lúc này con Gái cũng làm có tiền, khách du lịch nhiều mà xích lô thì ít hơn trước nên Ba Xô chạy cũng khá, mỗi ngày đều kiếm một hai trăm ngon lành. Ba Xô chạy bao nhiêu không cần biết, mỗi ngày đều bỏ ống vài ba chục ngàn, ít thì hai chục, nhiều thì năm chục, một hai tuần kêu con Gái gom lại, có khi được vài trăm, một triệu, triệu mấy, đem hết tới góp vô quĩ cơm từ thiện, giúp bịnh nhân nghèo. Khen anh thiệt tình nghĩa quá, Ba Xô cười, tình nghĩa gì đâu chú Hai, mình có ơn phải trả, người ta giúp mình, mình giúp người khác, có ít giúp ít, có nhiều giúp nhiều, đời này không trả, kiếp sau cũng phải trả hà, tui nói vậy phải hôn chú Hai. Ờ, phải đó anh Ba.

Con Gái là một đứa con xinh đẹp và hiếu thảo, trời thương, nó cao ráo giống Ba Xô, lại xinh đẹp tốt tánh như má nói, bởi vậy trai theo hàng đàn, mà mấy năm nó nhứt quyết không yêu đương, lo làm ăn, đi bán ở shop đó chú Hai, rồi làm hội chợ, làm đủ thứ ai mướn gì làm đó, miễn đường hoàng mà có tiền. Buổi tối nó đi học thêm tiếng Anh thôi. Nó nói đời nó nó chỉ yêu Ba Xô, Xô-Xích-Le của nó. Con người ta, có cha đạp xích lô hay làm lao động chưn tay thì thường mắc cỡ, còn con Gái không có nha, nó tự hào lắm, lúc nào cũng khoe ba nó đạp xích lô, chụp hình ba nó chở nó trên chiếc xích lô, khoe trên mạng đó chú Hai, Ba Xô cười hỉ hả.

Năm kia con Gái quen một thằng Mỹ, cũng trọng trọng, ngoài ba chục rồi, thằng này làm kỹ sư, qua đây làm việc chớ hổng phải dân du lịch ba lô, hai đứa có về trình bày với Ba Xô, dĩ nhiên Ba Xô gật đầu cái rụp. Tụi nó cũng lẹ, quen đâu chừng mấy tháng thì thằng kia hỏi cưới, Ba Xô gật tiếp, nhưng mà con Gái nó hổng chịu gật, dứt khoát hổng chịu. Con Gái nói, lấy chồng rồi con theo ảnh đi Mỹ, Xô ở với ai, ai lo cơm nước, ai thuốc thang rau cháo lúc trở trời, ai nói chuyện với Xô. Con Gái nói quen chơi thôi, nếu có lấy chồng nó phải ở chung với Ba Xô mới chịu, chú Hai thấy đời thủa con gái nhà ai kỳ cục vậy chưa?

Cái trời đất xui đâu đó, bữa trưa đó Ba Xô thấy bà bán trái cây kia bị xỉu gần chợ Dân Sinh, mới xuống đỡ dậy, xức dầu, rồi chở bả về nhà trọ, bên quận tư. Bà này quê Bình Định, theo người ta vô Sài Gòn bán trái cây dạo, bữa đó nắng quá mà bả đang cảm nên xỉu giữa đường. Nào giờ tui có biết xứ Bình Định nó nằm đâu chú Hai, người gì đâu mà nói cái tiếng khó nghe muốn chết, bả nói chữ “dờ quơ” mà một tháng sau tui mới hiểu đó chú Hai. Đó rồi coi như ông Trời định, bà này chồng chết, hai đứa con, cũng cỡ con Gái, đương làm công nhân đâu dưới Bình Dương, quen một hồi thấy cũng hạp, thôi xáp lại cho con Gái nó yên tâm đi lấy chồng.

Đám cưới con Gái, đàng trai bên Mỹ qua gần chục người, tía má thằng kia với bạn bè tùm lum, Ba Xô tính chạy đi mượn nhà người quen làm cái lễ cho đường hoàng, con Gái nó cản, nó nói mình sao để vậy đi Xô, nếu ảnh thương con thì ảnh thương, còn mà ảnh có khinh con nghèo thì con bỏ về ở với Xô, sợ gì. Bữa đó chưa rước bà “quơ” Bình Định về, nên chỉ có Ba Xô với gì Út con Gái đứng ra gả cưới. Cưới xong cả nhà kéo nhau đi Phan Thiết, Đà Lạt chơi mười mấy bữa luôn. Bữa nay qua Mỹ lâu rồi, mới đẻ rồi, con gái luôn, coi như tui làm ông ngoại rồi đó chú Hai, Ba Xô cười, lại hỉ hả.

Ba Xô rước bà sau về, dặn rõ, coi như rổ rá cạp lại, già rồi hổng có cưới hỏi chi hết trơn nha, chỉ nấu mâm cơm, cúng má con Gái, Ba Xô thắp nhang nói, mình ôi, cho tôi đi bước nữa, tuổi già có người nương tựa bè bạn, cho con Gái nó yên tâm lấy chồng xa, nha mình, vậy thôi. Hỏi Tết này có chạy hông anh Ba, Ba Xô cười lớn, hông có, mơi mốt đây nghỉ rồi, đi “dờ quơ” Bình Định chơi, chú Hai



Sài Gòn, món nợ bảy cây vàng



Sài Gòn, món nợ bảy cây vàng

...

bà Hai là người gốc Bắc, quê Nam Định, là người Bắc Năm Tư, bà theo gia đình vô Sài Gòn thời đó sớm, gia đình lại khéo mần ăn buôn bán ở chợ nên cũng khá giả, bà lấy chồng đã có tài sản là căn nhà với mảnh đất lớn, nằm mặt tiền một con đường cũng tương đối lớn. Mấy năm bao cấp nhà bà cũng chỉ ở thôi, không dùng mặt tiền nhà làm gì, bị bà thấy cho thuê thì không bao nhiêu tiền mà phiền phức. Sau này, xe cộ Sài Gòn nhiều dần, ở mặt tiền bà thấy cũng ồn ào thiệt, bà mới đồng ý cho vợ chồng ông Bảy mướn làm lò bánh mì.

ông Bảy quê gốc Sài Gòn, là lính chế độ cũ, sau năm 75 lưu lạc mãi, gia đình ly tán, vợ con thì về miền tây làm ruộng còn ông thì phải đi cải tạo. Khi về lại Sài Gòn vợ chồng cũng làm đủ nghề, cuối cùng chọn quay lại làm nghề bánh mì gia truyền. Lò bánh mì của ông Bảy là lò thủ công, nên nóng nực và ồn, nhưng được cái bánh mì ngon, bánh mì loại bự thiệt bự, nóng giòn và thơm lừng mùi bơ mà bà con đi xe đò hay mua làm quà cho sắp nhỏ dưới quê, bán nhiều trên những cần xé ở Hàng Xanh, hay bến xe Miền Đông, Miền Tây. Vợ chồng ông bà Bảy với nhà Bà Hai tuy là chỗ mướn nhà nhưng sống với nhau tình cảm, dần dần cũng như chị em trong nhà, chuyện gì cũng chạy qua chạy lại, tình thương mến thương.

...
làm ăn được mấy năm, buôn bán khấm khá, nhà ông bà Bảy dư tiền, mới xin mua của bà Hai một phần mặt tiền căn nhà mà mình đang mướn. Năm đó là năm một chín chín hai, thời đó giá nhà Sài Gòn rẻ lắm, miếng đất căn nhà của bà Hai ngang tám dài ba chục thước, cắt phân nửa phía trước mặt tiền, chỉ chừa lối đi hơn một mét để đi ra nhà sau, bán cho vợ chồng nhà ông Bảy, giá hai mươi bảy cây vàng, một cái giá quá không rẻ mà cũng không quá mắc, thời đó.

chuyện là vợ chồng nhà Bảy tuy có dư nhưng chỉ gom được hai chục cây, còn thiếu bảy cây vàng, vợ chồng mới xin nợ lại bà Hai, ít bữa kiếm tiền trả tiếp. Bị lúc đó không ai nghĩ chuyện gì lớn nên bà Hai cứ ký giấy bán, giấy bán cũng ghi rõ là tiền đã trả hết, còn chuyện thiếu lại bảy cây vàng chỉ là nói miệng với nhau, không có ghi giấy, thời đó người ta tin nhau.

...
nhưng rồi đời mà, nhiều chuyện xảy ra, đầu tiên là ông Bảy bịnh chết đột ngột, bà Bảy quá đau buồn nên cũng không ham buôn bán nữa, bà suốt ngày ngồi trước bàn thờ ông, chuyện buôn bán giao lại cho cô con gái, cô này cũng còn đang tuổi ăn tuổi học tuổi yêu đương, nên không mặn mà lắm, ai cũng lơ là cái lò bánh mì đã giúp mình kiếm tiền, rồi các lò bánh mì khác mọc lên như nấm, lò điện, sản xuất nhanh, bánh ngon đều, giá rẻ… cạnh tranh khốc liệt hơn, làm cái lò bánh mì nhà bà Bảy càng lúc càng ế ẩm, chỉ buôn bán cầm chừng. Lúc này thi thoảng bà Hai có nhắc món nợ bảy cây vàng, nhưng bà Bảy không trả nổi, ăn còn thiếu trước hụt sau mà, lấy gì trả, bà Hai thấy vậy thôi cũng không nhắc nữa, quay qua an ủi bà Bảy.

bà Hai người kính Chúa, bà Bảy lại là Phật tử, nhưng mà chồng chết, các con cũng lớn cả nên ra vô sớm tối đều đi với nhau, thậm chí hai bà rủ nhau cùng đi nhà thờ chung lễ, cùng đi chùa dâng hương làm công quả, chẳng nệ tôn giáo gì.

...
sau có chuyện là anh con trai lớn của Bà Hai mới ra làm ăn sao đó, bị thua lỗ, còn suýt vướng vô vòng lao lý vì nghe đâu nợ người ta mấy tỉ bạc. Anh này chạy về khóc kể, năn nỉ mẹ bán nhà trả nợ, bà Hai tuy bình thường không mấy chiều con nhưng đến nước này, thương con thương cháu, bà đành đứt ruột ký giấy bán căn nhà thân thương. Lúc bán nhà thì bà Bảy có qua ngăn cản lắm, bà nói, tui thiệt là giờ bảy cây vàng tui cũng không có trả bà, nhưng bán căn nhà thì uổng quá. Bà Hai cười mà nước mắt chảy dài, nói, thôi món nợ đó của tôi với bà bỏ đi, có đáng bao nhiêu đâu, mình sống nay chết mai, chỉ là sống ít ngày cho con cho cháu thôi, bà ạ. Căn nhà phía sau, lối đi nhỏ nên bán chỉ được có bốn tỉ mấy, vừa đủ cho ông con trai trả một phần món nợ, còn cả gia đình nhà bà Hai ba thế hệ phải dắt díu nhau đi ra đường, lên tận Gò Vấp thuê một căn nhà cấp bốn ở tạm.

...

bà Hai đi mấy hôm thì một bữa nọ bà Bảy ngủ dậy, tươi tỉnh hẳn, bà ra thắp nhang cho ông Bảy, rồi cũng đi rao bán nhà. Căn nhà bà Bảy mặt tiền nên bán được hơn bốn trăm cây. Tiền bán đất bà Bảy chia cho con gái, con trai mỗi đứa một trăm cây gửi vô ngân hàng, sau này muốn làm gì thì làm. Còn phần còn lại bà lên Gò Vấp mua miếng đất lớn, xây hai căn nhà cũng lớn, có sân trước sân sau, hai căn giống y hệt nhau, bà ở một căn, căn kia mời gia đình bà Hai về ở. Bà Bảy nói, ngày xưa bảy cây vàng là một phần tư căn nhà, tính ra nó tương đương với gần một trăm cây bây giờ, nay tôi trả bà cả vốn lẫn lời, bằng cái nhà mới nầy. Cả nhà bà Hai mừng như sống dậy, khóc cười cười khóc.

...
bữa tân gia hai cái nhà mới, mời bà con cô bác ở xóm cũ lên chơi, ai cũng mừng cho bà Hai bà Bảy có nhà mới, lên đây rộng rãi yên tĩnh, hai bà lại có dịp gần nhau, sớm tối có nhau. Nhiều người không biết câu chuyện về món nợ bảy cây vàng, cứ thắc mắc là sao hai cái nhà giống hệt nhau vậy cà, nghe vậy bà Bảy cười, bị tánh tui giống tánh bả, nên làm nhà cũng giống nhau, chớ có gì đâu.

Thứ Ba, ngày 20 tháng 1 năm 2015

Miến Điện, hành trình những chuyến xe đêm (3)

Coi lại:
Phần 2

Phần 3: lộng lẫy hoàng hôn Mandalay

...
buổi tối, chúng tôi lên cái xe bus nhỏ, kiểu xe 12 chỗ ngồi, nhưng chỉ có 4 khách, chúng tôi và hai phụ nữ khác, xe chạy khá nhanh, hầu như không dừng. Chúng tôi đi theo một con đường tắt, men theo bờ sông, qua những làng mạc nhỏ, những cánh đồng bạt ngàn thốt nốt, những núi đồi hoang vu, vậy mà cũng qua đến 6 trạm thu phí, đa số chỉ là những cây tre bắc ngang đường, nhân viên thu phí mặc longyi và nhai trầu, ra tận cửa xe, đưa vé nhận tiền bằng hai tay

 ở Miến Điện, chuyện ngồi trên mui xe hay đu bám tòng teng sau xe là chuyện thường ngày


xe đưa tới khách sạn Smart ở Mandalay, một khách sạn mới, nhân viên ai cũng dễ thương, có anh porter tranh thủ lúc chờ làm thủ tục để giới thiệu cho tôi các điểm thăm quan thành phố bằng tiếng Anh giọng Ấn, nghe tiếng được tiếng mất, nhưng phục sự nhiệt thành của anh. Anh này tên Ann, làm porter ở đây và ở một khách sạn khác, lương của anh khoảng 80USD/tháng cho mỗi job, nhưng số tiền mà khách cho dĩ nhiên là cũng tương đương, anh nhận ra rằng khách châu Á hay cho tiền hơn khách Âu Mỹ, có lẽ vì chúng ta cùng là người Á Châu, Ann nghĩ vậy. Ann đang kiếm tiền và tranh thủ học thêm tiếng Anh để có thể mua một chiếc xe và chạy taxi du lịch, anh và vợ đến Mandalay từ một ngôi làng nghèo khổ cách đó 200 dặm, anh làm nhiều việc và hầu như chỉ chi tiêu cho cuộc sống, còn lại là tiết kiệm, tiết kiệm đến mức chưa dám sinh con.

chúng tôi ăn tối qua loa ở một nhà hàng Ý gần đó, tôi gọi cái Ham và mấy ly wisky, cho dễ ngủ. Hôm sau chúng tôi dậy sớm, điện thoại cho anh taxi quen và quyết định sẽ đi một vòng 4 ngôi làng cổ, mà người Mandalay thường gọi là “4 cities”, dịch đúng phải là “thành”, gọi là làng nhưng ở mỗi nơi này đều có thành trì, từng là thủ phủ của một vì vua nào đó, từ cách đây mấy trăm năm. Tour này hầu như ai tới Mandalay cũng đều đi, nhưng đa số là đi 3 cities, vì cái thành xa nhứt, mà cũng đẹp nhứt và có quả chuông lớn nhứt, là thành Mingun, nó lại nằm hơi trái đường.




trước khi ra khỏi thành phố, chúng tôi ghé thăm một tu viện nhỏ, nhưng có tuổi đời cổ xưa nhứt vùng này, toàn bộ tu viện cũng được làm bằng gỗ tếch và được chạm trổ tinh vi, nét chạm hầu như là các họa tiết 3D khá độc đáo, đặc trưng của người Miến.

tôi chỉ kể sơ tour “bốn thành” này cùng với hình ảnh, vì cơ bản cũng chỉ là những ngôi chùa, những tu viện cổ xưa, những đoàn nhà sư, xe ngựa và cổ tháp. Trong 4 thành này tôi chỉ đặc biệt thích Mingun, vì nó mà tôi lặn lội tới Mandalay này, tôi đến bởi ngôi đền bốn mặt khổng lồ, điêu tàn nhưng kiêu hãnh đứng bên sông Ayeyarwady, tôi đến chỉ để đứng bên cạnh nó, sờ tay vào từng khối gạch cũ, rồi về.




ngoài đền Mingun, tôi còn đến một ngôi chùa khác, chỉ xuôi theo dòng sông một đoạn, chùa này theo kiến trúc mới, màu trắng, cũng khá đẹp và ấn tượng


sau thành Mingun là đồi Sagaing, nơi được coi là trung tâm Phật giáo, với hơn 600 ngôi chùa, tu viện, trong đó có cả một trường Phật Giáo rất lớn, từ đỉnh đồi Sagaing đưa mắt nhìn ra bốn hướng chỉ toàn chùa, những ngôi chùa với bảo tháp vàng chóe, nổi bật giữa màu nâu nhạt bạch thếch của cánh đồng hai bên bờ sông, chùa nối nhau triền miên




chúng tôi bỏ qua một thành, chỉ ghé ăn trưa và vào thành Inwha, Inhwa là một thành cổ, như kiểu thành Huế của ta, có lẽ vì giờ đây nó chỉ còn là một làng quê nghèo nàn nên mọi thứ còn nguyên hiện trạng, tường cao hào sâu tháp canh và vọng gác, với nhiều tu viện và chùa cổ nằm lẫn giữa những cánh đồng lúa mới cấy. Thành nằm bên kia sông, muốn đến phải đi đò qua, rồi thuê xe ngựa đi một vòng. Đường đẹp, cảnh đẹp, người dân ở thành này đa số đều nghèo nhưng khá thân thiện và mọi thứ đều có giá tiền rõ ràng, rất tiện cho du khách, đời sống ở đây gần như còn khá thiên nhiên hơn những chỗ khác











Và cuối của điểm hành trình này, dĩ nhiên là cầu Ubein, cây cầu gỗ tếch được coi là dài nhứt thế giới có tuổi đời hơn 200 năm bắc qua sông Taungthamna, hầu như các đoàn khách du lịch khác đến Mandalay đều đi cùng một tour như vậy, nhưng chỉ một phần trong số du khách chờ đón coi hoàng hôn trên cầu, bởi nơi đây cũng được coi là điểm ngắm hoàng hôn đẹp nhứt thế giới. 






Chúng tôi đến Ubein hơi sớm nên tha hồ lang thang chờ hoàng hôn, câu cầu đẹp thiệt, nhưng có vẻ chánh quyền ở đây không quản lý kỹ nên tình trạng buôn bán hai đầu cầu và rác thải là một điểm trừ của nơi này, còn lại phong cảnh thì tuyệt vời. Tôi cứ đi theo những người ngư phủ câu cá trên sông Taungthamna mà bấm máy, mải chơi quên mất việc thuê một chiếc thuyền để ra giữa sông săn ảnh hoàng hôn, đành đứng ở bãi bồi giữa dòng sông bấm máy, và đó đúng là một hoàng hôn lộng lẫy nhứt tôi từng chứng kiến.






Ánh mặt trời lặn qua bờ sông phía bên kia cầu, phản chiếu ánh nước và chiếu thẳng vào cây cầu, làm cho nó như một thước phim âm bản được chiếu bởi ánh sáng chỉ một tông màu rực đỏ, khó có thể diễn tả hết bằng lời nếu bạn không tận mắt chứng kiến điều này.

...
Bị ám ảnh bởi vẻ đẹp của cây cầu gỗ Ubein nên áng hôm sau chúng tôi không đi trong một số chùa trong nội ô Mandalay như dự định mà quyết định quay lại Ubein, một phần để ngắm lại cây cầu và chụp thêm ảnh đời sống của người dân làng bên kia sông, một phần để ghé tu viện Mahagandayon gần đó, mục kích cảnh đi ăn sáng của hàng ngàn nhà sư. 







Tu viện Mahagandayon là một quần thể lớn, với nhiều công trình và là nơi học tập sinh sống của một ngàn tăng sư, cảnh đi ăn sáng lúc 10 giờ của giới tăng ni ở tu viện này cũng là một cảnh tượng hiếm hoi trên thế giới, đáng tiếc là dù được nhắc nhở, các đoàn du khách, đặc biệt là khách Trung Quốc, vẫn làm náo động không gian, vốn trật tự và yên tĩnh của tu viện.


có điều này mà chúng tôi hết sức ngạc nhiên khi chứng kiến bữa ăn của các nhà sư ở đây, và cả Miến Điện nói chung, họ ăn thịt, thịt heo kho như chúng ta hằng ngày vẫn ăn, lúc mới nhìn tôi còn trầm trồ, đồ chay mà người ta làm miếng thịt y như thiệt luôn cà, hóa ra là thịt thiệt, chuyện này được giải thích dài dòng, tuy nhiên, tôi vẫn không thể quen được.





Chúng tôi quay lại cầu gỗ và mục kích nhiều cảnh tượng đẹp, hai đứa ngồi xem nguyên một trận đấu bóng (thuộc một giải đấu nào đó, vì có cả trọng tài chính, trọng tài biên, giám sát...) ngay trên bãi bồi dòng sông Taungthamna, giữa một đội các nhà sư trẻ và một đội các bạn trẻ khác. Đội nhà sư gần như là đá trên sân nhà vì có hàng trăm tăng sư của tu viện Mahagandayon gần đó ra cổ động rất nhiệt thành, 



Kết cục là đội các nhà sư thắng, tuy nhiên cách họ thắng không đẹp, lúc cuối giờ, khi đã dẫn bàn, các nhà sư toàn đá bóng ra ngoài, thậm chí đá thẳng ra sông để câu giờ, việc này còn được các sư cổ động tung hê nhiệt liệt, mặc cho đội bóng đối phương nỗ lực tìm bàn hòa, có thể việc nhà sư ăn thịt đã làm họ hoàn toàn chưa thoát tục chăng?

Buổi chiều, chúng tôi đi thăm Hoàng Cung, vài ngôi chùa, tu viện cổ và dự sẽ ngắm hoàng hôn trên đồi Mandalay. Hoàng Cung Mandalay còn khá mới, một phần nó cũng mới được xây dựng và gần đây được trùng tu khá lớn, nhưng chắc là do kinh phí, việc trùng tu lại khá sơ sài, với tường gạch nhũ vàng, mái tôn sơn đỏ, mất vẻ cổ kính cần có của một tử cấm thành uy nghiêm, dù vẫn có thành cao hào sâu, vọng lâu và các công trình cũ, nhưng tất cả có vẻ là một bản sao vụng về của những gì nó đã từng. Toàn bộ khu vực hoàng thành hiện nay do quân đội kiểm soát, và du khách chỉ được vào xem khu tử cấm thành, chúng tôi rất muốn đi ra ngoài, nơi các công trình bị bỏ hoang phế hơn, nhưng tiếc là điều đó không được phép, nếu không nói là khá nguy hiểm.




Chúng tôi sau đó ghé thăm ngôi chùa Kuthodaw Paya, nơi 729 có bảo tháp tàng trữ bộ kinh Phật chạm khắc trên đá cẩm thạch được coi là lớn nhứt thế giới, gần bên đó là tu viện Shwenandaw, một tu viện có tuổi đời hơn 300 năm, được làm hoàn toàn bằng gỗ tếch, kín đầy những điêu khắc trên gỗ cực kỳ tinh xảo

mỗi cái bảo tháp này lưu giữ một trang kinh Phật, có gần cả ngàn cái như vậy






Sau một hành trình dài trên cái gốc ngược lên đồi Mandalay, chúng tôi nghĩ chắc cảnh hoàng hôn sẽ đẹp, nhưng tôi sớm nhận ra mình không có tiền cảnh đẹp như trên cầu Ubein, nên tôi quay xuống và quyết định sẽ chụp cảnh hoàng hôn ở hoàng thành, từ bên kia con hào, bên tường lũy và vọng lâu, như vậy có vẻ đẹp hơn, quả nhiên tôi đúng. 



Anh tài xế chở chúng tôi đi suốt hai ngày tên là Didi, anh nầy từng có 13 năm làm Bartender bên Mã Lai nên nói tiếng Anh khá tốt, vui vẻ, nhiệt thành và hiểu biết. Didi đẹp trai, chưa có vợ vì lo chăm sóc cha già, thực ra anh từng có bạn gái, nhưng sau khi anh vừa đi qua Mã Lai thì cô gái đi lấy chồng, anh từ đó thành kẻ thất tình. Didi dự kiến sẽ kiếm đủ tiền để mua một chiếc xe mới cho riêng mình mới tính tới chuyện vợ con. Sau bữa tối ở khách sạn, chúng tôi ra bến xe đón xe buýt đi thị trấn Nyaung Shwe, nơi có hồ Inle nổi tiếng, tạm biệt cố đô Mandalay với ánh hoàng hôn lộng lẫy trên cầu Ubein.

Thứ Sáu, ngày 09 tháng 1 năm 2015

Miến Điện, hành trình những chuyến xe đêm (2)


(coi Phần 1 ở đây )

Phần 2: choáng ngợp ở thung lũng Bagan

xuống bến xe Bagan lúc bốn giờ sáng, trời còn tối thui và lạnh căm, còn lác đác mưa phùn, chúng tôi leo lên chiếc taxi gần nhứt để tìm về khách sạn, vừa ra khỏi cửa bến xe, taxi bị chặn lại và chúng tôi được yêu cầu đóng 15,000 kyat (15USD) phí vào khu bảo tồn văn hóa Bagan, theo tôi đây là cách làm hay, du khách tới thì cứ xoay ra thu liền một lần, rồi sau đó không cần thu khoản nào nữa, may mắn cho chúng tôi vì hôm đó là 31-12-2014, ngay hôm sau, tức 2015, phức phí này sẽ là 20USD.


tới khách sạn nằm gần khu Old Bagan, chúng tôi bỏ đồ và rửa mặt, cố gắng nói tiếng Anh câu được câu mất với gã trực đêm ngái ngủ, xoay một tấm bản đồ và cố tìm một điểm gần nhứt để ngắm mặt trời mọc trong thung lũng Bagan. Sau khi hỏi đường, trùm thêm áo lạnh, sốc lại cơ thể rã rời vì thiếu ngủ và vì một hành trình dài dằn xóc trên xe, chúng tôi đi bộ vào làng Bagan. Đường đêm sương lạnh, trời tối thui không nhìn rõ mặt nhau, hai đứa nắm tay nhau lò mò trong đêm tối, tôi rủa thầm mình đã vứt lại cái đèn pin dã chiến ở nhà, thi thoảng có chiếc xe chạy qua rọi sáng đường chút xíu. Có một chiếc xe bán tải cũ kỹ của dân địa phương chạy qua chúng tôi rồi dừng lại, ra hiệu hỏi xem bọn tôi có cần giúp gì không, tôi khoát tay cảm ơn nhưng có vẻ người đàn ông cầm lái chưa mấy yên tâm, ông cố gắng nói điều gì đó, tôi hiểu là con đường con dài, và khá tối để đi bộ. Hai đứa bàn nhau, thôi quay lại khách sạn, dựng đầu gã trực đêm dậy và nhờ gã tìm cho một chiếc taxi.




  đó là chùa Shwesandaw, ngôi chùa có tháp bốn mặt cao chót vót, nơi du khách tập trung leo lên ngắm bình minh trên thung lũng Bagan, mọi người từ nhiều hướng cùng tới, họ vội vã bỏ xe đạp, xe máy, giày dép dưới chân tháp và hì hục leo lên cả trăm bậc thang cao ngất, tìm chỗ tốt nhứt, trò chuyện khe khẽ trong bóng đêm. Khi chúng tôi leo lên tới đỉnh tháp, phía xa chỉ là một mảng hồng nhỏ xíu, còn chung quanh, cả thung lũng chìm trong bóng đêm và màn sương mịt mờ. không khí như thể chúng tôi đang cùng thành kính thực hiện một nghi lễ thiêng liêng nào đó.




cái mảng mây màu hồng phía chân trời bắt đầu đỏ dần, đỏ dần, lan lên cả bầu trời phía trên, một màu đỏ rực rỡ huy hoàng, từng đàn chim bay về phía mảng trời đỏ rực ấy, cất tiếng gọi nhau vang cả một trời. Và cuối cùng, như để thỏa lòng của cả trăm người đang chờ đợi, trong đó có rất nhiều nhiếp ảnh gia với đồ chơi khủng, mặt trời, như một vị vua đi sau đoàn tùy tùng đỏ chói của mình, đã xuất hiện, ban phát thứ ánh sáng huy hoàng mầu nhiệm, thứ ánh sáng cứu rỗi nhân loại này, ánh sáng chiếu thẳng từ chân trời xa ngút đến tận ngôi tháp chúng tôi ngồi. 









màu đỏ của chân trời rực sáng dần lên, những tia nắng còn nhẹ nhàng, nhưng đủ uy lực để đẩy bóng đêm tăm tối lùi ra, lụn dần sau lưng chúng tôi, ánh sáng dần dần xua màn sương mỏng ra khỏi mặt đất của thung lũng, từng cái từng cái đỉnh tháp nhô ra, có hàng trăm hàng ngàn ngôi cổ tháp, thấp thoáng trong bóng cây hay cô đơn giữa cánh đồng hoang vu, như một đạo binh ngàn năm tuổi, kiên nhẫn chờ đợi vị tướng quân của mình, dần dần hiện ra. Tôi có những lúc gần như không thể bấm máy ảnh, chỉ muốn ngồi thật lặng im để tận hưởng khoảnh khắc đó, bởi đó là một cảnh tượng thật đẹp, một trải nghiệm không thể nào quên.





đón bình minh và chụp hình trên tháp xong, chúng tôi bắt đầu ngấm mệt và đi bộ ra tìm chỗ ăn sáng nhưng còn sớm quá chẳng có ai ngoài đường, đành tiếp tục đi bộ, đi mãi, băng qua con đường và hỏi thăm mọi người, chúng tôi nhắm hướng vào một ngôi làng phía xa xa. Men theo con đường cát bụi, len lỏi giữa mấy tàn cây, chúng tới tới một khu dân cư tạm bợ, toàn những lều tranh cót dã chiến và những gian hàng như kiểu hội chợ, tất cả, hàng trăm cái lều như vậy, bao quanh một ngôi chùa lớn, có tên là chùa Anada, ngôi chùa cổ có tuổi đời ngàn năm được coi là linh thiêng nhất vùng này. Ra khỏi đó chúng tôi đến ngay cổng thành Bagan, nơi tôi tìm được một chỗ thuê xe đạp mới mở cửa, và thuê hai chiếc xe đạp để cùng nhau khám phá.



thành Bagan nằm bên bờ sông Ayeyarwady giờ chỉ còn là một thung lũng khô cằn với vài ngôi làng của dân bản xứ, nơi đây từng là kinh đô của vương quốc Pagan một ngàn năm trước, đến nay những huy hoàng của kinh thành xưa còn sót lại là một quần thể kiến trúc Phật giáo khổng lồ với hàng ngàn ngôi cổ tháp, tạo nên một Bagan huyền thoại, có một không hai. Hai chúng tôi đạp xe mê mải, ngoại trừ con đường nhựa duy nhứt băng qua cổng cổ thành, còn lại toàn đường cát bụi mịt mù, gập ghềnh ngoằn nghèo giữa những ngôi cổ tháp, chúng tôi đi mãi, đi mãi, chụp hình hoài mà không biết chán, hầu như chúng tôi dành cả ngày hôm đó để đạp xe vòng vèo trong thung lũng, bởi còn quá choáng ngợp trước vẻ điêu tàn mà kỳ vĩ nơi đây.






 …

tối hôm đó là giao thừa, ở đâu cũng đông, mấy quán bar dành cho du khách và mấy quán nhậu địa phương đều đông đen, chúng tôi bá vai nhau đi bộ ra khỏi khách sạn, tìm một quán ăn nhỏ, ven đường, đèn lu lu, muỗi vo ve và côn trùng kêu non nỉ, gọi một dĩa mồi, vài chai bia Myanmar, ngồi lai rai với nhau, ôn lại chuyện xưa chuyện cũ, nhớ lại từng con đường, từng làng bản đã qua, nhắc vài tên bạn bè thân thuộc… của hai mươi năm qua.



hôm sau, chúng tôi bỏ qua nghi lễ ngắm mặt trời và cũng hết hành trình đạp xe, đành thuê một chiếc xe ngựa, lang thang vào những ngôi làng trong thung lũng chơi. Nói chuyện với gã phu xe chúng tôi mới biết, những cái lều chung quanh đền Anada là của dân các làng khác về đây dự lễ hội của đền, lễ hội sẽ kéo dài một tháng liền, với nhiều hoạt động, hội chợ, ca nhạc, ẩm thực, nghi lễ… hèn chi, chúng tôi thấy không khí lúc nào cũng tươi vui rộn rã. Lễ hội đền Anada là lễ hội lớn nhất vùng này, người dân đóng cả gia đình, quần áo, lều chõng lên xe bò và lũ lượt kéo nhau về ăn chơi cả tháng. 






lang thang trong làng, chúng tôi gặp một đoàn các nhà sư nhí đi khất thực, không biết gọi thế nào cho phải phép, thực sự chỉ có vài người là trưởng thành, còn lại trong bộ quần áo nâu sòng của người tu hành là những đứa trẻ vô tư, đùa giỡn với nhau và còn chụp hình chung với chúng tôi. Dân làng ai cũng hiền lành, mến khách, tuy không nói được tiếng Anh nhưng chúng tôi khá hiểu nhau, chúng tôi được nhường cơm để dâng cho các vị sư, được chỉ đường tận tình, thậm chí còn được chỉ vài chỗ đẹp để chụp hình nữa.




chỗ đẹp đó là một bờ sông hoang vắng, rất ít du khách tìm đến, nơi có cánh đồng cằn cỗi trong gió cát xen lẫn với những ngôi cổ tháp và thành quách điêu tàn, nơi có đỉnh cao tháp gạch vụn nhìn ra toàn cảnh thung lũng, nói chung là rất đẹp, chụp hình đến mỏi tay.






...
đi cả ngày, buổi chiều chúng tôi trả phòng, ra chợ Nyang-U chơi, chờ bắt xe đò đi cố đô Mandalay, ở đây không có xe ngon lành như các tuyến khác, chỉ có xe nhỏ kiểu xe tốc hành ở VN, không có máy lạnh và nhìn hơi nhem nhuốc, nghe nói cũng chạy khá ẩu, nhưng đành vậy, chúng tôi không mong gì hơn. Lại lên xe, trò chuyện, bắt đầu một hành trình mới.

(đón coi Phần 3: hoàng hôn kinh thành Mandalay)

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...