Thứ Tư, ngày 29 tháng 10 năm 2014

chuyện ở tiệm bán đồ chơi



chuyện ở tiệm bán đồ chơi

...

hai cha con dừng xe máy, người cha như vừa làm hãng về, còn bộ đồ đồng phục công nhân, anh cẩn thận, gạt chống, bước xuống xe rồi mới ẵm thằng con chừng năm sáu tuổi xuống, đặt nó hẳn vào trong cửa hàng rồi mới quay lại rút chìa khóa xe
- đây rồi, quá trời luôn, con chọn robot đi, chọn con nhỏ thôi nha con, con bự quá dễ gãy tay giống lần trước
- dạ, con thích con biến hình kia, màu đỏ đó
- con này nhiêu vậy anh, người cha giơ cao con robot hỏi vọng vào trong, nơi có anh chủ tiệm, đương lui hui kiếm đồ cho khách
- coi giùm giá phía sau đó anh ơi, anh chủ tiệm cười, nói như cáo lỗi, đang lu bu chút nha
- trăm tám lăm, mắc dữ, người cha lầm rầm


ánh mắt đứa nhỏ háo hức, hai tay nó nô lên, với với theo tay cầm con robot của người cha, nhưng khựng lại ngay vì cha nó đã đặt con robot vào chỗ cũ, trên kệ
- con lựa con khác đi, con này...hư rồi
- đâu đâu, hư sao đâu để bác coi cho, anh chủ tiệm nhanh chưn bước ra, phủi phủi đôi ta vô lưng quần vừa cười với đứa nhỏ, vừa đưa tay lên món đồ
- anh ơi, anh kiếm giùm em con nào giống giống vậy mà chừng năm bảy chục thôi anh nha, em hổng có đủ tiền, bị lỡ hứa mua robot cho nó cả tuần nay mà chưa có lương, người cha cười với anh chủ tiệm, nói nhỏ vừa đủ nghe, nụ cười hiền lành như xin lỗi
- con này nha con, con này nha, hay là con này đẹp nà... cả hai người đàn ông thi nhau thuyết phục thằng bé chọn một con robot khác, nhưng mọi nỗ lực đều không thành. Trong lúc loay hoay, một trong hai người đã đụng vô cái kệ, làm con robot lúc đầu rớt xuống đất, chỉ chờ có vậy, thằng nhỏ chạy sấn tới, ôm chặt con robot mà nó đã chọn, nó cầm chắc như thể muốn chống cự lại cả thế giới.

người cha thở dài, móc bóp đếm tiền, chỉ có một trăm ba chục ngàn trong bóp anh. Anh chủ tiệm vừa xếp lại mấy món đồ, vừa ý tứ nhìn người cha từ phía sau, rồi, nhón tay vô cái bóp đang mở của người cha, rút tờ một trăm sờn cũ
- đưa anh một trăm được rồi, đem về cho nó chơi đi, còn lại bữa nào có đưa sau
- dạ, cảm ơn anh quá, tới tháng em lãnh lương ra ghé trả anh liền, nhà em ở trên này, khúc...

anh chủ tiệm cười khoát tay, ra dấu đi đi, đừng khách sáo
người cha cúi xuống, nhấc bổng cả đứa nhỏ đang ôm con robot
- con cảm ơn bác đi
- dạ con cảm ơn bác, đứa nhỏ khoanh tay, thực ra nó vẫn đang khoanh tay, với con robot ôm chặt sau canh tay nhỏ bé

hai cha con đi ra, cả hai cùng cười tươi rạng rỡ, ngoài đường, Sài Gòn xe cộ ngược xuôi, phố xá lên đèn

Thứ Bảy, ngày 25 tháng 10 năm 2014

biệt thự không đóng cổng,


biệt thự không đóng cổng,

tôi quen anh cũng lâu, dễ cũng hai chục năm, từ lúc chân ướt chân ráo lên Sài Gòn, lâu vậy nhưng không thân mấy, số lần gặp nhau thì rất ít, càng lúc càng thưa dần, chỉ thi thoảng mới ngồi riêng với nhau chút xíu, hoặc cứ hẹn hò sẽ ngồi với nhau mãi, cũng không ai trách ai, vì Sài Gòn rộng quá mà. Anh có công ty riêng từ lâu, làm ăn khá giả, mở rộng qui mô, xuất khẩu nước ngoài, càng lúc càng giàu, nghe bạn bè to nhỏ anh giờ ở tầm đại gia, mà tôi cũng quan tâm gì, biết vậy mừng cho anh thôi

năm kia anh kêu ra quán café, bảo Phú xem giùm anh cái thiết kế biệt thự nhà anh, tôi hơi dỗi đùa, bảo sao anh không để công ty em thiết kế cho anh, chơi kỳ cha, anh cười, có thằng cháu con bà hàng xóm đang học năm cuối kiến trúc, má nó năn nỉ để nó thiết kế, mình cũng muốn cho nó một công trình đầu tay, nhưng cẩn thận nhờ Phú coi lại giùm, xem được không. Cái biệt thự thiết kế khá đẹp, còn non tay nghề nhưng sáng tạo, kiểu rất hiện đại, dùng kính nhiều nên nhìn sáng sủa. Tôi chỉ góp ý là anh coi lại đi, chớ Sài Gòn giờ phức tạp, cửa kính nhiều mà không có song sắt thì dễ bị trộm lắm, anh cười, vụ đó không lo đâu.

anh kể, thời sinh viên anh cùng mấy đứa bạn cùng quê vô xóm đó ở trọ, tuy không gần trường anh nhưng lại là trung tâm để đi lại mấy trường khác. Xóm nghèo, toàn nhà trọ, nhà cấp bốn lấn chiếm lụp xụp, cư dân toàn dân lao động, xe ôm, ba gác, xích lô, thợ hồ, ve chai, buôn bán nhỏ. Vô ở trọ rồi mới biết xóm này cực kỳ phức tạp với đủ loại tệ nạn, rượu chè, trộm cướp, ma tuý, giang hồ… nhưng được cái nhà trọ rẻ, và bình dân nữa. Anh ở trọ chỗ đó 5 năm, có lúc thiếu tiền nhà cả năm vẫn được ở, có lúc mất xe đạp được bà con gom tiền mua cho xe khác, có lúc trong túi không còn cắc nào vẫn đều đặn ăn ngày ba bữa, café đầy đủ, lúc nào có tiền trả sau. Anh ở trọ chỗ đó 5 năm, thành cư dân hẻm luôn, lúc ra trường đi làm vẫn tiếp tục ở đó, người ta mở hẻm, tráng nhựa, làm cống, lập khu phố, có tên anh trong cư dân của xóm, tuy sau này phải thuê cái phòng trọ lớn hơn.

rồi anh làm có tiền, anh mua một góc khu nhà trọ, cất cái nhà nhỏ nhưng vẫn đi chung lối nhà trọ. Anh quen chị cũng sinh viên nghèo, hai người cất được cái nhà từ tay trắng và một đống nợ nần, nhưng vẫn đến với nhau. Đám cưới anh đãi nguyên xóm, mỗi người đi mừng, vừa mừng cưới vừa mừng tân gia, mỗi người một món đồ, anh nhớ rõ món nào của ai, cái nồi cơm điện của chị Bảy café, cái giường của anh em ông Thơ ông Nhạc, bộ ghế gỗ do cha con ông Tư thợ mộc đóng, cái cây khế kiểng của bà Sa bánh mì, bộ ghế đá của Tám Cai… vợ chồng anh vui lắm, mấy đêm liền không ngủ, cứ ra vô sắp đặt mọi thứ, lau chùi cho sáng bóng. Nhà cửa từ đó hạnh phúc, anh chị sanh liền 3 đứa con, đứa nào cũng đẹp, cũng ngoan. Rồi anh giàu, giàu lắm, anh mua hết khu nhà trọ, mua luôn miếng đất trống kế bên, thành một lô đất bự, hơn năm trăm thước vuông, và anh cất cái biệt thự đó, do một sinh viên kiến trúc năm cuối, con của của bà Sa bánh mì thiết kế, anh cười vẻ chịu lỗi, anh cũng không nhờ Phú xây được, vì trong xóm có ông Tám Cai, với nguyên bang thợ hồ…



tuần rồi ghé nhà anh, hẻm lớn, thông qua mấy hẻm con, nhưng mà đúng là lộn xộn thiệt, người ta buôn bán, để xe, nhậu nhẹt, ngồi lấn chiếm gần hết con hẻm. Ngôi biệt thự nằm gọn phía sau lô đất, chừa nguyên cái sân mênh mông phía trước, tha hồ đậu xe. Trong sân đám con nít hơn chục đứa đương rộn ràng cười nói chạy nhảy, không biết đứa nào là con anh chị luôn. Anh nói, cái sân nhà anh, anh để như cái sân chung, cho đám con nít trong xóm chơi, chớ tụi nó chơi ngoài đường sợ xe cộ quá, nhà anh có cổng cũng như không, vì không đóng cổng bao giờ.

sân nhà anh, ban ngày con nít chơi, chị Bảy bán café khách khứa ngồi lềnh khênh, buổi tối làm chỗ họp dân phố, xóm có nhậu nhẹt ca hát cũng kéo vô, còn khuya nữa thì lục đục hàng xóm qua gửi đồ, chị Bảy gửi bàn ghế café, vợ chồng thằng Đỏ gửi xe cháo lòng, bà Sa gửi xe bánh mì, bà Chín gửi tủ thuốc, ông Lắm cất xe ba gác.. anh cười, giờ giống như cái sân chung, ai gửi đồ cuối cùng thì tự động đóng cổng, ai lấy đồ sớm thì lo quét dọn, vậy thôi. Mà nói thiệt, nhà anh cũng như cái nhà chung, người ta mượn sân đãi tiệc thì mượn luôn bếp nấu, bọn con nít trong xóm cuối tuần xin qua ngủ chung với con anh để chơi game, người ta đi chợ giùm anh, rảnh nấu nướng giùm anh, tưới cây, cho cá ăn… nhà anh bà con hẻm ra vô thoải mái, cần gì cứ chạy qua lấy.

đang ngồi chơi thì có cô bé tới đứng kế, mặc cái đầm đẹp, đôi mắt tròn vo, anh hỏi, gì đó con, con bé lí nhí, dạ con muốn bông, bông nào, nó chỉ tay ra vườn sau, chỗ dàn hoa lan rất đẹp mà anh thường chăm chút, bông của bác Hai, treo lên sân khấu cho đẹp. Anh nhìn tôi cười, con gái Út chị Bảy café, bữa nay sinh nhựt nó, sáu tuổi, đãi ngoài sân mình nè, cũng bọn nhỏ trong xóm không hà, anh kêu tụi nó làm sân khấu ca nhạc, lát má nó dọn hàng đem bàn ghế vô. Rồi anh gọi ra ngoài cho một phụ nữ dáng lam lũ, chị Bảy, chị bưng tui ly café, rồi vô xách mấy giò Lan ra treo ngoài sân khấu cho tụi nhỏ nha. Lát sau chị Bảy bưng café vô, nói, chú Hai đừng chiều con Út, mấy bông Lan đó quí lắm, treo ra ngoài coi chừng tụi nó bứt trụi lủi à, anh lại cười, kệ đi chị Bảy, bứt bông này nó ra bông khác, chủ yếu cho con Út nó vui, à, bác Hai đặt bánh kem cho con rồi, lát chở tới nha.

lúc tôi về thì bánh kem được chở tới, cái bánh bự chà bá, cả hẻm ra coi, con Út nhảy choi choi mừng, chị Bảy nước mắt ròng ròng, nói, má ơi, nào giờ chưa thấy cái bánh kem nào bự dữ thần ta ơi.


Thứ Năm, ngày 23 tháng 10 năm 2014

vì sao nên lấy chồng cần thủ,

vì sao nên lấy chồng cần thủ,

dân câu cá có một đức tính vô đối, một đức tính mà mọi ông chồng nên có, là kiên nhẫn, nên các cô gái lấy chồng cần thủ rất vui, cần thủ có thể ngồi hằng giờ nhìn cái đuôi cần. cái chỏm phao mà không mệt mỏi hay chán nản, có thể đứng tung hàng trăm đường câu móc bọc mà vẫn kể chuyện tiếu lâm, nhờ đó, hãy yên tâm rằng hắn có thể vui vẻ đứng chờ bạn trang điểm để tiệc tùng hay đi siêu thị hằng giờ, có thể âm thầm lắng nghe bạn càm ràm về công việc, mấy chị đồng nghiệp khó ưa và mụ xếp xấu xí, hắn chịu đựng bạn cau có, đá thúng đụng nia trong những lúc khó ở khó ăn, thai ngén, nuôi con nhỏ… hắn vẫn luôn luôn nhẫn nại và yêu thương

dân câu cá khỏe mạnh, thực ra câu cá không cần sức, nhưng để chơi món này lâu dài thì phải có sức khỏe và sức bền của một lính thủy đánh bộ, hắn đứng nắng dầm mưa, băng rừng lội sình, thức khuya dậy sớm, đi bộ chạy bền vượt chướng ngại vật… kiểu gì cũng khó ai bì được dân cần thủ, nên yên tâm lấy chồng cần thủ hắn sẽ đủ sức khỏe lo lắng cho bạn, đưa đón chăm sóc bạn và cáng đáng gia đình, hắn chẳng mấy khi đau ốm thuốc thang, chắc mấy khi bạn phải nấu cháo hành nuôi hắn, chẳng cần lo lắng cho hắn lúc trái gió trở trời, hắn bền bỉ như pin enigizer (nhưng bự hơn viên pin nhiều)

bạn lo lắng vì tài nội trợ của mình ư, yên tâm lớn nếu có chồng là cần thủ nha, hắn giỏi nấu nướng lắm, đa số dân cần thủ đều giỏi chuyện bếp núc, nhiều người ở tầm đầu bếp chuyên nghiệp, đặc biệt là chế biến các món từ cá, cá kho, cá hấp, cá nướng, cá chiên, canh chua, canh ngót, lẩu cá… đa số cần thủ đều rất giỏi, nghề dạy nghề và anh em chỉ nhau thôi, có thể hơi lạ nhưng bảo đảm tuyệt đỉnh công phu. Còn nếu hắn không vào bếp, đừng lo, bạn nấu thứ gì kiểu gì đối với hắn cũng là một bữa ăn ngon, vì hắn dễ ăn lắm, vì hắn thèm cơm gia đình, đối với cần thủ thì một góc tư cái bánh chưng sắp thiu, nửa gói mì không nước sôi, hay cái đầu cá lóc lụi trong ngọn lửa bằng lá khô củi mục cũng thành bữa cơm, thậm chí bỏ một hai bữa ăn hắn cũng chẳng hề hấn gì

bạn muốn có một ông chồng tháo vát, có ai hơn cần thủ chứ, việc tỉ mỉ như buộc lưỡi, tóm thẻo, căn phao, quấn khoen… hắn làm còn điệu nghệ, thì ba cái việc vặt trong nhà, sửa điện, thay bóng đèn, gắn ống nước , rửa xe, chùi bugi, chống dột,… thậm chí thay tã, chăm con…đối với hắn là chuyện nhỏ nha, hắn tháo vát và nhiệt tình vô đối, hắn chu đáo đến kinh ngạc nhất là trước và sau mỗi bận đi câu, và chưa kể là trong mọi việc, hắn luôn cực kỳ sáng tạo nữa, sự sáng tạo này trong đời sống vợ chồng là chất men tình cảm rất khó kiếm. Cần thủ không bao giờ ngại khó, ngại khổ, không bao giờ than vãn và đổ thừa hoàn cảnh, để bạn luôn yên tâm rằng chính hắn, là người đàn ông bạn cần

cần thủ là người cực kỳ nhạy cảm, nhiều năm cầm cần cho hắn một sự nhạy bén đến kinh ngạc, chỉ cần hít mùi gió, nhìn cái gợn chân mây, cái ráng chiều là hắn có thể nói chính xác thời tiết, nhìn cái bóng bóng khí sủi lên, nghe cái tiếng quẫy, tiếng táp là hắn đoán ra đó là cá gì, trọng lượng cỡ bao nhiêu… cho nên lấy chồng cần thủ đừng lo hắn không hiểu mình, chỉ cần cái chau mày của bạn là hắn biết phải làm gì, chỉ cần bạn ho một tiếng là hắn đoán được đại cục, nên chuyện cãi vã vợ chồng thường khó xảy ra, vì hắn lường tránh hết rồi, bạn chỉ có vui và vui mà thôi, nha

còn nữa, điều mà mọi bà vợ đều quan tâm, cần thủ sẽ luôn là người chồng chung thủy nhất, hắn có thể vẫn mê nhìn ngắm gái đẹp (ai mà chả mê chứ), nhưng hắn vẫn thích ngắm CÁ đẹp hơn, nếu có tiền việc đầu tiên hắn nghĩ đến là chạy đua vũ trang, trang bị vũ khí khí tài cho việc câu, nếu có thời gian rảnh, thì hắn nghĩ đến chuyện đi câu, nếu ra khỏi nhà, chỗ đầu tiên hắn tìm tới là chỗ có mặt nước… yên tâm nha


các cô gái, hãy mơ về một anh chồng mê câu, còn cô nào đã có chồng cần thủ, chúc mừng bạn, bạn thật may mắn, có thể hắn hơi khét (nắng), hơi hôi (mùi mồ hôi), hơi đen, hơi bẩn, hay vắng nhà một hoặc vài bữa… nhưng hắn là mẫu người chồng tuyệt vời nhất


Thứ Bảy, ngày 18 tháng 10 năm 2014

Lê Thị Sài Gòn

...

hai mươi năm trước, có một cô gái, ta tạm gọi là cô Thơm, cô Thơm người vùng núi ở tuốt ngoài Thanh Hóa, làng quê nghèo khó quá nên cô nghe lời một người bà con đưa đường dẫn lối thế nào, lạc vào Sài Gòn làm mướn. Cô Thơm làm phụ việc ở một tiệm phở của một người đồng hương với đồng lương 500 ngàn một tháng, sau khi trừ chi phí cơm nước các thứ thì cô còn dư khoảng 100 ngàn gửi về quê giúp thầy mẹ. Cô Thơm làm lụng khá vất vả, từ 4 giờ sáng đã dậy làm việc, quần quật cho đến tận 11 giờ đêm, hầu như chẳng mấy lúc nào ngơi tay, và không thể ngước mặt lên nổi bởi tiếng chửi sa sả suốt ngày của vợ chồng bà chủ, thỉnh thoảng cô còn bị ném cả giẻ lau vào mặt hay đánh lên đầu côm cốp bằng cái giá bự bằng nhôm thường dùng múc nước phở, nói chung cô Thơm quá khổ. Nhưng khổ cực chỉ làm cô buồn, chớ không hề làm phai bớt nét đẹp ngầm của một cô gái bắc, da trắng môi hồng, mái tóc dài đen mượt.

cô Thơm có hẹn mỗi tháng một lần sẽ điện thoại về nhà, ở quê, cả nhà cô sẽ kéo ra một nhà người quen có mắc điện thoại để cô gọi về nói chuyện với từng người, thầy trước, rồi mẹ, rồi chị, rồi em, thỉnh thoảng nhắn luôn con Hồng, cái Huệ ra cùng trò chuyện. Đó là khoảng thời gian vui nhứt của cô Thơm, cô cười, cô khóc cả giờ liền bên chiếc điện thoại. Cô Thơm hỏi han chuyện gia đình, đồng áng, chuyện sức khỏe thầy mẹ, chuyện học hành mấy đứa em, còn chuyện mình thì cô Thơm toàn nói dối, cô nói cô làm bán hàng, nhàn nhã lắm, có điều chưa quen việc nên lương thấp, mai mốt cô sẽ khá hơn, sẽ gom tiền về thăm nhà…

chỗ cô Thơm gọi điện là một tiệm bán tạp hóa, hồi xưa đa số tiệm tạp hóa thường có gắn thêm cái điện thoại công cộng làm đại lý cho bưu điện, có máy tính cước đàng hoàng, giá cả cũng phải chăng, chỉ có điều tiệm này không có buồng điện thoại riêng, chỉ là để cái điện thoại trong góc khuất đằng sau quầy hàng, kê cái ghế cho khách ngồi nói chuyện, vậy thôi. Cái tiệm tạp hóa của một đôi vợ chồng, chưa già lắm nhưng cũng không còn trẻ, tầm sáu mươi ngoài, ông bà nói giọng bắc, gốc gác đâu ngoài Nam Định Thái Bình, nhưng hầu như không biết gì về quê hương nữa do là người bắc năm tư, ông bà đã sống cả đời ở Sài Gòn, ông bà rất hiền và dễ thương. Ông bà có hai người con,, một người theo bạn bè vượt biên rồi sống ở Úc, còn người kia thì chết lúc còn nhỏ do đau bịnh, giờ ông bà gần như sống với nhau thôi.

Tiệm tạp hóa cũng vắng khách, nên ông bà hay kê ghế ngồi chơi, xem báo đọc sách gần chỗ cái điện thoại, và vừa vô tình vừa cố ý, đều dõi theo cuộc trò chuyện với quê nhà của cô Thơm. Biết hoàn cảnh cô Thơm, ông bà thấy thương cô lắm, mỗi lần cô sang gọi điện thì ông lén tắt cái máy tính cước, nó chỉ dừng ở 5 ngàn đồng dù cô có gọi bao lâu đi nữa, lâu lâu bà kêu ra cho cô món này món nọ, chai dầu gội, chai sữa tắm, cái quần cái áo, nói là dư dùng đem cho, chớ thiệt ra cũng đồ mới cả, cô Thơm cũng quí ông bà không kém.

có một anh nọ, ta tạm gọi là anh Bần đi, bần là tên một loại cây mọc nhiều vùng nước lợ, gần mé nước, bần trong tiếng nam bộ cũng có nghĩa là nghèo, anh Bần quê miệt Cần Đước, cha mẹ chẳng may mất sớm, mấy đứa con nương tựa nhau, đứa lớn chăm đứa nhỏ cùng với sự đùm bọc của bà con nội ngoại xóm riềng mà lớn, như cái cây ngọn cỏ, như con thòi lòi con ba khía, khỏe mạnh và hiền lành, dù không học hành đàng hoàng.

anh Bần chạy xe ôm, thực ra anh là lính nghĩa vụ ra, sau ba năm đóng quân ở sư đoàn năm, chuyên trồng rau nuôi cá, anh xuất ngũ trở về không có nghề ngỗng gì, may có ông chú kêu về, cho cái xe máy cũ, chạy xe ôm. Nói chạy xe ôm chứ thực ra công việc của anh Bần là sáng chở ông chú ra cửa tiệm đâu tuốt ngoài Chợ Lớn, phụ dọn hàng với ông chú, rồi về chở cháu đi học, đưa bà thím đi chợ, đưa về, chiều lại đón cháu, ra đón ông chú, đóng cửa tiệm, tối thì anh ngủ lại ngoài tiệm coi hàng… Nói là chạy xe ôm chứ anh cũng không dư đồng nào vì thời gian cao điểm thì mắc chở chú thím, dọn hàng, còn lại chạy lòng vòng kiếm khách, đổ xăng cũng hết tiền. Anh Bần thường thỉnh thoảng chở hàng cho ông bà chủ tiệm tạp hóa, anh giao tương, chao, sa tế, lạp xưởng khô… từ Chợ Lớn xuống, thường ngang khúc giữa trưa, nên ông bà mời dùng cơm trưa, riết rồi thân quen

tới đây thì chắc các bạn cũng biết rồi, ông bà chủ tiệm tạp hóa nọ bèn cáp anh Bần cho cô Thơm, quá đẹp đôi mà, có điều cả hai chưa tiến xa được ngoài một vài lần trò chuyện và cái nắm tay rụt rè. Bởi nếu không đi điện thoại về nhà thì cô Thơm có rảnh mà đi đâu, đi chút về lại bị chửi, lại bị đánh nên cô sợ, cao điểm là có lần cô đi gặp anh Bần về, trượt chưn té làm bể một chồng tô, cô bị trừ nửa tháng lương, bị chửi đến ba đời và bị vụt cơ man nào là đòn. Còn anh Bần thì cũng vậy, loằng ngoằng chút với một hai cuốc xe lẻ là đụng giờ về đón chú, đưa thím, không hở ra được, lỡ mà để chú thím chờ năm ba phút thì cũng mặt nặng mày nhẹ, tao nuôi mày báo cô báo cậu, điếc đầu. Mà cơ bản nữa là vì cả hai nghèo quá, còn gánh nặng cơm áo sau lưng, tiền đâu, uống ly nước mía còn không dám, làm sao nghĩ chuyện yêu đương chồng vợ

thấy lâu quá đôi trẻ chưa tiến triển gì, ông bà tìm hiểu thì mới ra sự tình, cũng khó hén, nhưng Sài Gòn mà, luôn luôn có cách, Sài Gòn thì luôn luôn có cách. Ông bà thời trước nữa, thời mới giải phóng, bị đưa lên Sông Bé khai hoang lập đất, làm hợp tác xã trên đó, cực khổ quá nên đứa con lớn bỏ đi vượt biên còn đứa con nhỏ đau bịnh chết trên tay ông bà trong nước mắt, mãi sau chạy chọt mới về lại được Sài Gòn. Sau này giải tán hợp tác xã, người ta vẫn để cho ông bà cái lô đất cũ, coi như công xã viên, lô đất rẫy chừng 3 hecta, trồng cây gì, nuôi con gì cũng ngon lành lắm, có điều đường vô đó xa xôi cách trở, nghe nói đi xe máy chừng cây số phải dừng lại lấy cây dích bùn đỏ ra rồi mới đi tiếp được. Ông bà lên nhận đất rồi, nhưng chưa biết làm gì, hiện đang bỏ không, bán thì cũng không được mà làm thì hổng có sức làm. Thì đây, đưa đôi trẻ coi như quà cưới

đám cưới diễn ra luôn ở tiệm tạp hóa, đãi bốn bàn, ông bà chủ tiệm là chủ hôn, chú thím anh Bần đưa rể, thầy mẹ với mấy đứa em cô Thơm đón xe vào nam đưa dâu, có cả anh con trai lớn của ông bà ở Úc gửi về tiền mừng. Anh Bần đen thui xúng xính trong bộ đồ mướn, cô Thơm được trang điểm mặc áo dài gấm nhìn đẹp rực rỡ, chụp mười tấm hình. Cưới xong anh Bần chở cô Thơm, cái ba lô đằng trước cái túi cói đằng sau, ra Bình Triệu hướng lên Sông Bé, bắt đầu cuộc sống mới

vợ chồng anh Bần cô Thơm siêng năng chịu khó, yêu thương nhau, anh Bần vốn là lính chuyên trồng rau nuôi cá nên với cái rẫy trong tay thì anh như người khai vương lập quốc, cô Thơm gái bắc mà, giỏi giang hơn nhiều cô gái khác nên một tay giúp chồng làm nhà, đào ao, trồng cây, làm chuồng heo, chuồng gà… rồi cô Thơm có bầu, là con gái, vì ở xa quá nên cô Thơm quay về Sài Gòn, về nhà ông bà tiệm tạp hóa để chờ sanh, ông bà cưng lắm, lần đầu có cháu có dâu mà, cưng lắm, chăm chút kỹ vô cùng, ngày nào cũng bồ câu gà ác ăn riết.

đứa bé, con của anh Bần và cô Thơm, ra đời ở Sài Gòn, nó tên là Lê Thị Sài Gòn. Năm nay nó mười chín tuổi, đẹp như mẹ nó, hiền như cha nó. Anh Bần giờ ngon lành, lúc tách tỉnh người ta kêu làm giấy đỏ, ông bà cho anh đứng tên luôn, rồi nhà nước mở đường mới, qua đúng rẫy của anh. Cô Thơm sanh thêm hai đứa con nữa, thằng Bình Phước thằng Bình Long, giờ họ nhà ngói xênh xang, cả gia đình hai bên xúm vô làm trang trại, cuộc sống tươi vui lắm

vậy đó, đó là câu chuyện của cô bé Lê Thị Sài Gòn, tôi gặp cháu chút xíu, nó kể tôi nghe trong nét mặt rạng ngời, nó nói nó thích tên mình lắm, mà ai cũng thích tên nó, nhiều khi nói chuyện người ta cứ kêu Sài Gòn, Sài Gòn, nghe thích lắm. Ừ ta cũng thích cháu, ta cũng thích tên cháu nữa, Sài Gòn à



Thứ Sáu, ngày 17 tháng 10 năm 2014

Ở Sài Gòn (2)


...
có những thứ, ở Sài Gòn, rất nhỏ, nhỏ quá không thành chuyện, nhỏ nhặt đến mức không ai để ý, ai cũng coi là chuyện lình bình hằng ngày, như nắng như mưa, như cái cây cụt ngọn như đèn đường vàng vọt lúc tối trời, nhỏ bé và nhẹ nhàng đâu đó như một tiếng một cái phủi tay, như lóc cóc tiếng mì gõ, như một vốc trái cây bốc thêm… nhỏ lắm, vậy mà khi xa người ta mới nhớ, mới thương, mới lật đật ra vô coi ngó, thầm thỉ với mình, ủa ở đây hổng giống Sài Gòn, ủa vậy là mình nhớ Sài Gòn sao, kỳ vậy cà
...


1.
ở Sài Gòn, thường khi dừng đèn đỏ ngã tư, nếu trời nắng người ta sẽ dừng ở bóng cây gần nhứt, cho dù cái chỗ dừng xe còn cách cái đèn đỏ chừng chục mét, mà không ai thấy phiền, xe sau nối xe trước, chen chúc trong cái bóng mát nhỏ nhoi đề chờ lao tiếp vào dòng người khi đèn xanh bật sáng, trong ầm ĩ tiếng động cơ phố xá, rồi cô gái ngồi sau bất chợt hỏi, cây gì bông tím đẹp ghê ta nơi, tiếng đáp từ một người đàn ông nào đó, xa mãi phía sau, bằng lăng

2.
ở Sài Gòn, khi đừng đèn đỏ, nếu đường không quá đông, người ta vẫn luôn chừa một lối nhỏ, ngay bên phải sát lề, để dành cho những chiếc xe máy quẹo phải, nếu quên chừa thì người cần quẹo cứ nhích tới xin, hoặc một người khác tự động nhắc, bà con xích qua chút cho người ta quẹo phải, chỉ vậy thôi, chút nhường nhịn giữa phố phường lộn xộn, hổng ai nhớ, không ai làm ơn cho ai cũng không ai cần luật lệ làm chi, chỉ là một thứ vô hình, mà người ta hay gọi là, biết điều
3.
ở Sài Gòn, khi đi ngoài đường lỡ làm rớt món đồ nào đó, ví dụ như cái nón, cái áo, cái mạng che mặt, cái cặp sách… mấy anh chở hàng làm rớt bịch hàng, nếu không sợ xe khác cán phải món đồ thì chỉ cần dừng lại, quay đầu nhìn về hướng món đồ mình làm rớt, rồi lát tự động có người đi sau lượm đưa lại, đôi khi đưa tận tay, cũng có khi vội vã người ta lấy cái chưn móc món đồ lên, chạy tới rồi đá qua cho bạn, y như làm xiếc, coi kỳ lắm. Cũng có khi bạn làm rớt mà không biết, người ta cứ lượm, rồi lạch đạch chạy theo để đưa cho bạn, nhiều khi món đồ không bao nhiêu nhưng mà bạn vui, vậy rồi người ta cũng tất tả đi, không kịp nhìn mặt bạn để nhận một nụ cười, một tiếng cảm ơn

4.
ở Sài Gòn, thường giữ xe miền phí ở mấy quán café, quán ăn, quán nhậu.. miễn phí là không thu tiền giữ xe, dĩ nhiên ở đâu cũng miễn phí, mà Sài Gòn miễn phí có tặng kèm nha, kèm nụ cười, dù có thẻ hay không thẻ. Mấy anh bảo vệ giữ xe quán thường rất dễ thương, bạn chỉ cần chạy xe tới quán, đá chống rút chìa khóa cầm thẻ rồi cứ vậy lững thững vô quán, anh bảo vệ sẽ tự động dắt xe bạn, xếp vô hàng, khéo léo để không làm trầy xe bạn, nếu trời nắng anh kiếm tấm bìa che lên yên xe, trời mưa anh phủ bạt cho khỏi ướt, mà rủi có ướt, lát nữa dắt xe ra anh sẽ lau khô cho bạn. Bạn ăn uống thoải mái nha, lúc bạn lục đục tính tiền thì anh bảo vệ nọ đã đẩy xe bạn ra khỏi hàng, cầm cái đuôi xe vừa cười vừa hỏi, anh Hai đi hướng nào để em dẫn, bạn hất mặt hướng nào thì anh sẽ dẫn xe ra hướng đó, bạn đưa thẻ và đi, có dư tiền lẻ bạn cho anh năm ba ngàn, không thì thôi, hổng sao, có khi bạn cho người ta còn hổng dám nhận, vẫn tiễn khách vui vẻ, cảm ơn anh Hai ủng hộ, mơi mốt ghé nữa anh Hai… anh bảo vệ kiêm dẫn xe đó, lương cũng năm ba triệu, đứng ngoài nắng ngoài mưa, có cười một trăm lần một ngày, có dẫn mấy chục chiếc xe cũng không thêm mấy đồng bạc, đừng nghĩ người ta làm vì tiền mà mang tội

5.
ở Sài Gòn, mấy người đi xe máy chở hàng nặng hay cồng kềnh, thường chở yên sau cột bằng dây, đa phần là xe ôm làm thêm việc giao hàng hoặc mấy anh chuyên lấy hàng ơ chợ đầu mối, nhiều khi đi lặc lè ngoài đường mà có tới mấy chục người theo nhắc, em ơi tuột dây kìa, ê sao nó nghiêng bên này dữ vậy mày, anh ơi coi chừng rớt cái bịch bên này… rồi tỉ như rủi mà có tuột dây, có rớt hàng, thì tự động người ta dừng lại, khiêng lên xe phụ, tấp vô lề cột lại giúp… chớ mình ên anh giao hàng sao làm được, nên người đi giao hàng ở Sài Gòn thường không sợ chở hàng nhiều, không sợ đi một mình, bởi, có gì nhờ bà con người ta phụ

(còn tiếp)

Hình: một thanh niên dừng xe, phụ cột đồ giúp cho một anh giao hàng bị đứt dây cột, giữa trời nắng đổ lửa buổi trưa, Sài Gòn, quận nhứt 2013


Thứ Sáu, ngày 10 tháng 10 năm 2014

xì ke

...

đang đi bộ trên vỉa hè thì nghe tiếng bước chân đằng sau, quả nhiên có người lại gần, đưa tay níu cánh tay mình, ngoảnh lại lập tức thủ thế, đó là một thanh niên, tầm hơn hai mươi, ốm nhách, đội nón kết, áo khoác vải, bên trong là áo thun có lẽ từng là màu trắng, quần jeans thùng thình, khuôn mặt không đến nỗi, ngoại trừ đôi mắt sâu hoắm và đôi môi thâm đen
- anh ơi, cho em xin năm chục ăn cơm, em đói
- thanh niên mà xin tiền mầy
- dạ... dạ...(gãi gãi đầu)
- tao không cho thì sao
- dạ.. dạ... (gãi gãi lưng)
- tao không cho đó, có đồ chơi móc ra đi
- dạ không có, em xin tiền chớ không phải ăn cướp
- mầy xin kiểu đó là ăn cướp còn gì, mầy nghiện phải không
- dạ...
- cắn hay chích
- dạ chích, tới cữ vả quá
- giờ tao không cho mầy thì tiền đâu mầy chích
- dạ chắc em cũng phải đi ăn cướp thiệt
- ngon cướp tao nè, mầy đi ăn cướp giỏi lắm được một hai lần, rồi người ta đánh què giò, cho mầy đi trại chăn kiến năm năm, có đáng không, mầy vô trại lần nào chưa
- dạ chưa, mới đi bụi mấy ngày, tại "chà đồ nhôm" quá bị ông già kêu (công an) khu vực, em bỏ nhà đi chớ không chắc cũng bị hốt đi trại
- thôi, không có năm chục, tao cho mầy một trăm, nhưng mà mầy phải nghe tao một câu
- dạ, cảm ơn anh
- thanh niên mà vầy là hư mẹ nó đời, mày phải ...blav...blav...
- dạ, em biết
- biết mẹ gì, tao biết là tao nói mầy cũng không nghe lọt đâu, nhưng mà coi như tao nói rồi, mầy đừng để tao gặp lại mầy nha
- dạ, anh cho em xin thêm điếu thuốc
- móa, được voi đòi Hai Bà Trưng mầy
- dạ, em cảm ơn
- nói thiệt, mầy về nhà đi, ráng bỏ đi, còn trẻ lắm, uổng đời con ơi
- dạ
nó lầm lũi đi chiều ngược lại, vo vo tờ tiền trong tay, không biết nó nghĩ gì, cầu trời đủ cho nó hôm nay, đừng đi giựt đồ ai

Thứ Năm, ngày 09 tháng 10 năm 2014

Sài Gòn, cơm tháng



Sài Gòn, cơm tháng

ai ăn cơm bình dân Sài Gòn chắc cũng biết chữ này, cơm tháng, đơn giản là ăn cơm chỗ nào đó một tháng, được đóng tiền trước hoặc giữa tháng, hoặc quen thì đóng sau cũng được… dần nó thành một thành ngữ, để chỉ thứ gì đó bình dân, quen thuộc, thân thiết dữ lắm, ừ cái hẻm đó tao ăn cơm tháng mấy năm trời, hoặc như, ai chớ bà Năm La hả, tao ăn cơm tháng nhà bả luôn… sinh viên càng phải biết chữ này, đời sinh viên khó khăn nên thường đóng trước tiền ăn nguyên tháng, rồi lấy cái phiếu, ăn bữa nào xé phiếu bữa đó.

cái lợi của cơm tháng là yên tâm, không lo đói nguyên tháng đó, lúc có tiền cứ trích tiền đóng tiền cơm tháng, rồi yên chí lớn. Sinh viên, dân lao động xích lô ba gác, dân bốc xếp, chợ búa mấy khu càng bình dân càng chuộng cơm tháng, đến bữa cứ ra ăn, chỗ dễ dãi quen biết cho chọn món thoải mái, cơm canh bao no còn tặng trái chuối ly trà đá, chỗ khó khăn thì qui định món được kêu, nhưng nói chung ai quan tâm, chỉ cần có cơm, có cái gì mằn mặn, yên bụng qua bữa là được. Cái bất lợi là phải ăn riết một chỗ, có đi đâu cũng ráng về chỗ quán cơm ruột mà ăn, vậy thôi.

có quán này, cơm bình dân, nghe kêu tên chị chủ, là quán chị Phượng. Quán chị bán cơm bình dân, một phần trong nhà và ba phần là ngoài hẻm, ghế bàn nhựa, chén dĩa cũng nhựa, ngoài lề đường thì che bậy bạ bằng mấy cây dù khuyến mãi, toàn thấy sinh viên, bán báo, vé số, xích lô, xe ôm vô ăn. Cơm chị Phượng nấu ngon, cơm không trắng nhưng gạo nở thơm phức, canh chua rau giá xanh um, cá lóc từng khứa hay cá rô mề nguyên con kho tộ đúng kiểu miền tây, cá trê chiên dòn mắm gừng hay canh cải thịt băm không thua mấy nhà hàng, trà đá để một bình lớn, sạch sẽ mát mẻ, một phần cơm có mười bảy ngàn, món nào mắc lắm chừng hai chục ngàn, giữa trung tâm Sài Gòn thì giá đó là quá rẻ, mà cơm tháng 30 ngày chỉ tính có 25 ngày thôi, ai mà không thích chớ.

buổi trưa buổi chiều khách đông lắm, chị Phượng luôn tay luôn miệng, mẹ chồng chị và đứa con gái lớn đi học về cũng ra phụ quyết liệt mà vẫn không ngớt việc, mấy khách cơm tháng phải vô phụ dọn bàn, dọn dĩa, tự múc cơm, múc canh… người cơm tháng nhiều quá, thành ra quen biết nhau hết, gặp nhao xôn xao, bữa nay chạy khá không mậy, sáng giờ được trăm vé chưa con, cô ba bữa nay mua trúng lô vỏ lon ngon lành hén… rào rào như cái chợ nhỏ, chị Phượng mặt đỏ phừng vì mệt vẫn chào hỏi, cười tươi với khách, anh Ba hết tháng rồi nha anh Ba, Tú ơi tháng này em dư hai bữa, để mai ăn luôn hay sao cưng ơi…

có quán này, cơm bình dân, là quán chị Phượng, chị Phượng chồng chết, có hai đứa con, gái lớn đâu mười sáu mười bảy, trai nhỏ mới chừng mười tuổi, đều đang tuổi ăn học, cái nhà quán cơm nhỏ xíu, chừng chục thươc vuông, được cái mặt tiền, chị mướn lại của người ta, bà chủ nhà thấy chị buôn bán không lời mấy nên coi như cho chị bán không, tính tháng có hai triệu với trả tiền điện nước thôi. Chị cất cái gác nhỏ, đem mẹ chồng về ở chung, mẹ con bà cháu có nhau. Mẹ chồng chị cũng già lắm rồi, chắc đã ngoài tám mươi, cũng hơi lẫn lẫn, gặp ai cũng nói, biểu con Phượng lấy chồng khác, đi bước nữa đi, mà nó hổng chịu, buôn bán một mình cực quá.

có bữa nọ, đâu hơn hai giờ chiều, chị Phượng lục đục dọn rồi mà có khách cơm tháng mới lừng lững đạp chiếc xích lô về ăn, chú Năm ơi đi đâu về trễ dữ, con hết đồ ăn, thôi chú ngồi đây con chiên bậy mấy cái trứng ăn nha chú. Chú Năm xích lô không đi một mình, ông chở theo một anh tây to béo, làm hai phần luôn cô Phượng, cho thằng này ăn với, tui bao nó, tính vô tháng cho tui. Anh chàng Tây có vẻ đói lắm, quất sạch dĩa cơm trứng chiên, trái chuối với ly trà, lúc nghe nói được ông Năm bao, nó cười ha hả, cám ôn cám ôn, xong ra, nó ra dấu biểu ông Năm ngồi lên xe, để nó đạp chở ông Năm đi.

chiều muộn ông Năm đạp xe xích lô không quay về hỏi, tui thiếu cô mấy tháng rồi cô Phượng, dạ có hơn hai tháng mấy, để con lật sổ coi, mà chú có tiền chưa, không có thì để lo tiền thuốc cho thím Năm đi chú ơi, chú cứ ăn rồi vài bữa có trả. Chú năm cười, đưa tờ trăm đô, cái thằng Tây đó, tưởng nó kẹo kéo, trả giá thấy ớn luôn, đi một vòng Sài Gòn mà nó trả có năm đô, vậy mà tui đãi nó dĩa cơm thôi, cái nó cho luôn một trăm đô, tui phải lật đật đi hỏi người ta, chớ sợ đô giả đó cô Phượng, thằng tốt bụng thiệt đó. Chị Phượng cười tươi, khách trong quán ai cũng ra cầm tờ trăm đô săm soi, cha Năm bữa nay trúng mánh quá, được hơn hai triệu bạc cuốc xe, ờ ờ, cô Phượng ơi, tui trả hết tiền cơm tháng, còn dư đãi bà con bữa chiều nay nha, được được chú Năm, bữa nay vui quá xá.


Thứ Năm, ngày 02 tháng 10 năm 2014

Sài Gòn có thơm không?



Sài Gòn có thơm không?


1.
hôm qua tôi có việc đi qua quận 11, sáng sớm ăn cơm tấm rồi ngồi café cóc nhìn ngắm phố phường thời khắc rộn rã bắt đầu ngày mới. Có nhiều chuyện để kể trong một buổi sáng như vậy, ở Sài Gòn, tôi chỉ muốn tả lại khoảnh khắc mà tôi chạm vào, hòa vào nó, không sự kiện trong một khoảnh khắc nhiều, rất nhiều sự kiện
...
sáng sớm thì bao nhiêu hàng quán đồng loạt lục đục mở cửa, người ta gọi nhau, kiêng đồ ra lấn chiếm vỉa hè hoặc giả treo mấy tấm biển hiệu sờn cũ hoặc những thứ biểu tượng đặc trưng của nghề dịch vụ ở Sài Gòn, như cái vỏ xe cũ, cây thuốc rỗng, cục gạch bình xăng, cặp phuộc, cái niềng xe máy, cái bình bơm hơi, cái chìa khóa lớn bằng gỗ sơn xanh…vài người khác thì bưng đồ ăn sáng với ly café chạy tới chạy lui, băng qua băng lại con đường mỗi lúc một ken đặc xe cộ, giao chỗ này tính tiền chỗ nọ, tất tả. Những tiếng gọi đồ ăn hay café chen giữa tiếng xe máy rền rĩ khói, kiểu, sườn bì không mỡ hành nha, tíu mì dai giò gân nha, một đá ít đường một sữa tươi nhiều café… Rồi bên này đáp trả nghe, nghe, có liền có liền, hai ly này nữa là mười bốn ly rồi nha trả đi mày thằng quỉ, hết vốn với mầy luôn, chờ chút đi…Bên bàn kế bên tôi chị chủ quán café đang nói chuyện với một vị khách mới, tôi đoán anh nầy ở miền tây lên nuôi bịnh bên Chợ Rẫy, chị chủ quán vỗ vỗ vào cái bụng mình ra chiều hiểu biết, ra được hết máu bầm trong này là coi như khỏe được chín phần rồi, thôi cũng mừng cho anh… Anh nọ kêu thêm ba điếu con mèo và bấm gọi điện về nhà, em ơi người ta nói lấy ra được máu bầm là coi như đỡ được chín phần rồi, mừng quá…
...
nếu bạn không thích Sài Gòn, bạn sẽ vất vả với đoạn văn trên, kệ bạn chứ, còn nếu bạn thích thì tất cả là Sài Gòn, của Sài Gòn, tôi yêu những điều đó, vụn vặt và rối nùi, hỗn tạp và đậm đặc một thứ không khí chợ, kiểu chợ trời đó, nhưng mà thơm, thơm mùi người

...
2.
có bạn đọc (nhất là mấy bạn đồng hương) hay hỏi tôi, tại sao anh là người Hà Tĩnh/Phú Yên/Nha Trang mà lại yêu Sài Gòn nhiều như vậy, tôi đã trả lời riêng cho các bạn, nhưng cũng như tôi tự trả lời mình, tình yêu luôn không có lý do, nếu yêu mà cần lý do thì nó không phải là tình yêu
...
đối với nhiều người sống dịch chuyển du canh du cư qua nhiều nơi, như tôi, nếu ví mỗi vùng đất mình từng sống và từng yêu như một người phụ nữ trong đời mình, thì gốc gác là bà ngoại, nơi sinh ra như mẹ, nơi lớn lên như người tình đầu bé ba bé bảy nào đó, và Sài Gòn, Sài Gòn thì như vợ, một người vợ bị chồng con cơm áo cuốn trôi mất vẻ lãng mạn cần có của một người tình, nhưng là một người vợ luôn tần tảo, vị tha và là người chờ đón người đàn ông của mình sau những gì hắn tự cho là dời non lấp biển… và tiếc thay, Sài Gòn như một cô vợ như vậy, bị chính ông chồng mình, người mà mình đã tần tảo chăm lo phục vụ trong chừng ấy năm, luôn miệng chê già chê xấu, để rồi hắn ta mơ tưởng về bà ngoại hiền hòa, nhớ về mẹ ấm áp, luôn ngậm ngùi tiếc nuối với bé ba bé bảy đáng yêu của ngày xưa, hoặc mơ tưởng về những người mẫu chân dài ở xa xôi nào đó.
...
đoạn trên tôi mượn ý bạn Tư, trong “yêu người ngóng núi”, nhưng thực ra, theo tôi, Sài Gòn không có tính nữ, như một vài nơi khác, để bạn yêu, Sài Gòn có chăng là duyên nợ, thứ duyên nợ gắn liền cơm áo, giữa người ta với nhau, rất thực thà và rất đỗi con người


Thứ Ba, ngày 30 tháng 9 năm 2014

Sài Gòn, đời ba gác máy

Sài Gòn, đời ba gác máy

...
chở gì đó chú Hai ơi, hàng về đâu em chở anh Hai… à, có chở gì đâu, bị thấy mấy ông ăn cơm vui quá nên ghé chơi thôi, mèn ơi, cảm ơn anh Hai, tụi tui cơm lao động có gì vui anh Hai, toàn dân ba gác máy, cực thấy mẹ chớ vui gì

...
xe ba gác máy này nó có từ lâu rồi anh Hai, hồi tui còn nhỏ thì ba tui đã chạy xe này, chạy từ xích lô máy qua ba gác máy, rồi thời cuộc, gia đình lên xuống, bán đi rồi mua lại, độ lên độ xuống giờ nó thành ra vầy, chớ tui nhớ hồi xưa nó đẹp hơn. Mà ba tui, ổng cũng đã chạy ba gác máy từ lúc ổng còn trẻ, hồi đó chạy ba gác máy ngon nha anh Hai, một mình ba tui chạy, tuy cực lắm, nhưng mà nuôi mấy má con tui sống được, giờ tới tui thì hên xui, bữa đói bữa no, chỉ có điều mơi mốt tui không để mấy đứa nhỏ chạy, ráng cày cho tụi nó ăn học, mai mốt nó đi làm hãng sở, quần tây áo sơ mi cặp táp, cho có với người ta, đừng nắng mưa khổ cực như tui

...
ba gác máy này hả, khó chạy lắm anh Hai, chạy hổng quen leo lên là đụng tá lả, bị nó nặng lắm, nhứt là lúc chở hàng, bẻ cua là bẻ cả đống hàng trên xe, gặp hàng lớn, hàng nặng là phải bẻ cua bằng cả hai tay, hai chưn và luôn cái mình, chạy ngoài đường vừa côn vừa ga vừa số cực lắm, nhiều bữa chạy chục cây số về nhà ngủ không được luôn, bị nhức rêm hết mình mẩy. Còn nữa, giờ đường đông, xe máy chạy ẩu nên cũng dễ tai nạn, ba gác máy bị cấm cũng phải. Nhưng mà anh Hai nghĩ coi, dân mình nhà ở trong hẻm không, mà nhiều nhà hẻm sâu còn hai ba cái siệc, muốn sửa nhà, mua đồ, không có ba gác thì vô phương, nên cấm thì cấm mà chạy cũng còn chạy được. Có thời căng quá mấy ổng gom hết, phát cho mỗi nhà năm triệu đền, rồi cũng từ từ trả ra, giờ chạy thì hên xui, bị bắt coi như lỗ

...
tui cũng hổng biết kiếp trước làm gì nên tội mà giờ trời đày phải sanh nhai bằng cái ba gác máy này, thương cái xe mà cũng thương mình lắm anh Hai, bị đã có lịnh cấm nên suốt ngày giao thông, công chánh, trật tự, phường quận kể cả dân phòng… thằng nào cũng dòm ngó, hở chút là phạt hở chút là kêu lại… chở hàng thì bị đám xe tải nhỏ, xe trung quốc nó cạnh tranh phá giá sát rạt, gặp bữa hên còn kiếm hai ba trăm, còn gặp bữa dư một trăm đem về cho má sắp nhỏ là mừng rồi. Cái xe cùi bắp này thì chạy ba bữa sửa một bữa, ra đường còn đỡ chớ vô hẻm thì tiếng bô nó kêu ầm ĩ làm người ta ghét, người ta chửi tụi tui rát mặt rát mũi, có người còn xách nước tạt, cũng cắn răng mà chạy chớ sao giờ, hổng lẽ để tụi nhỏ đói, anh Hai nghĩ coi, phải hôn

...
ai cũng nói tụi tui giang hồ, đụng chuyện là chửi thề đánh lộn, nhưng mà làm nghề ngày, không hiền được anh Hai, tui nhìn tướng anh Hai tui biết anh Hai hiểu chuyện nên tui nói thiệt, làm cái nghề hạ bạc này, chỉ có mình với cái xe hàng chớ có ai hiểu đâu, trời nắng đu trên xe nó kiệt hết mồ hôi, trời mưa thì thà dầm mưa chớ đâu dám để hàng ướt. Chạy cả ngày kiếm trăm ngàn bạc đổ mồ hôi sôi nước mắt lắm anh Hai, quẹt vô cái xe hơi, đụng đít cái xe máy là mệt, gặp người dễ tánh bỏ qua, gặp thằng khó chịu chúng bắt thường, không cương thì bữa đó đói. Rồi chui chui ra chui vô mấy cái hẻm quận tư quận tám kiểu gì cũng đụng dân tình, rừng nào cọp đó, mình mà hiền coi như cũng thua, rồi đám xe trung quốc giờ tụi nó cũng đi thành băng, giá nào tụi nó cũng chở đặng giựt mối, mình ngồi im cũng coi như chốc mỏ. Anh Hai nghĩ coi, bị miếng cơm manh áo phải dữ dằn, anh em phải tựa lưng nhau mà sống, tụi tụi ở đây thằng ít cũng bị đòn hai ba bữa, thằng nhiều bị đuổi chém cả chục lần, cũng phải sống chớ anh Hai, chớ tụi tui cũng là con người, cũng vợ cũng con, dữ dằn với ai làm chi? đúng hôn anh Hai.

...
nói chuyện nãy giờ hổng hỏi thăm anh Hai đi đâu đây, cầm máy chụp hình đừng nói là nhà báo nha, mà phải nhà báo thì anh Hai nói tốt giùm tụi tui một tiếng, chớ đừng thấy tai nạn, tiếng ồn rồi báo chí nhao nhao, rồi hở là cấm hở là cấm, cái xe ba gác máy nó từng dựng lên cả cái Sài Gòn này, giờ muốn cấm, cũng làm sao coi cho được chớ. Tụi tui cũng muốn kiếm nghề khác mà làm, kiếm xe khác mà chạy chớ cũng đâu ai muốn cực khổ vầy.

...
ờ, nói đi cũng nói lại, vậy chớ cũng hên là nhiều bà con cô bác chủ hàng người ta còn thương lắm, có hàng là kêu mình, dù biết kêu taxi tải rẻ hơn, tiền bạc mối mang nên cũng đỡ, chịu khó khiêng lên khiêng xuống, đau lưng chút mà người ta cho tiền cafe... đó như cơm tụi tui ăn đây là bà chủ hàng bên kia, bả kêu cho đó chớ, chở hàng thì cha này chở mà cả đám được ăn cơm ké, tụi tui nói thiệt, mấy người sống tình nghĩa, trời không phụ lòng, phải hôn anh Hai



Thứ Năm, ngày 25 tháng 9 năm 2014

"có người trả rồi"

..

"có người trả rồi"

ở Sài Gòn, thỉnh thoảng bạn đi ăn tiệm và lúc đứng lên móc bóp gọi tính tiền thì bạn nghe chủ quán nói, nãy có người/anh kia/chị kia... trả rồi, bạn khựng lại đôi chút, rồi cười. Đôi khi bạn biết người đã trả tiền cho mình vì nãy vào quán có nhận ra người quen hoặc nói đôi câu xã giao, nhưng cũng có lúc bạn chịu không nhớ ra là ai, bạn cố gắng hỏi chủ quán xem dung mạo người ấy thế nào, người ta có nói gì không, hỏi vậy thôi chớ dắt xe ra khỏi quán bạn cũng quên, người trả tiền cho bạn thì còn quên mau hơn, nhét cái bóp vô túi là họ quên, chủ quán cũng chẳng để ý đâu, mỗi ngày quán đó có hàng biết bao khách trả tiền qua lại kiểu đó, chuyện nhỏ mà.

tôi cũng có vài lần được trả tiền "giùm" kiểu đó, mới đầu tôi ngại lắm, cứ mang tâm lý biết ơn mãi, nhưng sau thấy cũng bình thường, thay vì cảm kích người đã trả tiền cho mình, tôi chọn cách của Sài Gòn, là trả tiền cho người khác nữa, vậy đi

thường thì việc "có người trả rồi" này chỉ dừng mức nho nhỏ như tô phở, ly cafe, dĩa cơm tấm... nhưng cũng có khi là chầu lẩu dê năm bảy người hay một bữa nhậu say ngoắc cần câu, dù số tiền trả là bao nhiêu thì nó cũng thành chuyện nhỏ, tôi chắc là không ai nhớ, người được trả không nhắc, người trả cũng không kể, chuyện chỉ có Sài Gòn và ông chủ quán biết mà thôi.

có điều hay, như một cái luật, ở Sài Gòn, là người chủ quán không bao giờ ăn gian số tiền đó, ví như, nếu người chủ quán nhận tiền của người trả giùm mà lát sau vẫn ra tính tiền của người được trả thì đâu ai biết nè, nhưng mà không có, ở Sài Gòn thì không có chuyện đó, chỉ là nụ cười đẫm mồ hôi dầu mỡ và cái khoát tay, bàn này có người tính tiền rồi.



LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...