Thứ Năm, ngày 18 tháng 9 năm 2014

mối tình thằng Mực,



...

mối tình thằng Mực,

không ai biết tên thiệt của nó, chỉ kêu bằng thằng Mực, thằng Mực đã hai tám tuổi, gần đến tam thập nhi lập mà chưa có mối tình lận lưng, hỏi nó mầy có thương ai không, nó cười ha hả, nói có chớ có chớ, nhưng mà thương để bụng, đặng rồi đi ca cho ngọt giọng thôi, chớ ai mà thèm thương em anh Hai. Thằng Mực quê miệt Cà Mau, nó lên Sài Gòn hơn chục năm, theo một anh trong xóm làm lơ xe tải, chuyên chở nước đá, nói lơ xe nghe cho nó xôm tụ chớ thực ra thằng Mực chỉ làm công việc vác nước đá từ nhà bô lên xe, vác nước đá trên xe xuống xe giao cho quán café, nhà hàng, vậy thôi, rảnh rỗi nó cũng tập lái xe nhưng mà chưa có bằng. Làm nghề lao động nên thằng Mực rắn chắc, đen trũi, hàm răng sáng bóng, nụ cười hiền lành, mỗi tội nó nghèo quá

hỏi sao kêu tên Mực, nó nói ông nội nó kêu vậy, bị dân miền biển mà, hồi nhỏ nó đen thùi như con chó mực, chạy lẫm chẫm ngoài bãi chờ ghe của ba nó về, dân tình kêu chết tên Mực. Lớn chút nữa, lúc nó có ba đứa em nhỏ thì cha nó đi biển rồi không bao giờ trở về trong cơn bão số năm, kêu bằng bão Linda đó anh Hai, nhà cửa bị bão cuốn hết, má nó muốn điên dại luôn, ông nội nói đời mày khổ quá, đen như mực thiệt. Rồi ông nội nó cũng cất được lại cái nhà, đưa mấy má con nó về ở, được mấy năm thì ông nội nó cũng chết, nó đành bỏ học, cùng với má nó thành lao động chính, nuôi mấy đứa em ăn học tiếp.

thằng Mực nói, em làm nhiêu tiền gửi về quê phụ má, má em giờ già đau bịnh triền miên, mấy đứa em cũng lớn cũng biết chuyện, bữa đi học bữa đi làm nên cũng đỡ lo rồi, có con em gái kế học kế toán ra mà giờ làm lương còn thua em đi lơ xe, rồi lấy chồng đẻ con nên cũng hổng có dư tiền cho má, chủ yếu em lo, thành ra coi vậy chớ có đâu dư đồng nào mà tính chuyện bồ bịch anh Hai. Cũng may thằng Mực hiền lành nên ai cũng thương, nhứt là mấy cô mấy chú chủ hàng, đi giao nước đá người ta cho ly café, mấy điếu thuốc, thi thoảng cho cái áo cái quần mới mua bận hổng vừa hay cho năm ba chục tiền ăn cơm, có người cho tờ vé số chiều dò trật lất mà cũng vui.

mới đây hỏi nó, mầy nói thiệt coi giờ mầy đang thương ai, nó cười một hồi rồi nói nó thương con nhỏ kia, tạm kêu bằng con Gái, con Gái phụ bán café ở chỗ nó hay giao nước đá bên quận tám. Con Gái là cháu kêu bà chủ quán bằng cô, quê đâu ngoài miệt ngoài, ngoài Quảng đó anh Hai, nghe vậy thôi em có đi đâu tới ngoải mà biết. Con Gái cũng có cảm tình với Mực, hai đứa có nhắn tin qua lại cả tháng trời, nhưng mà chưa có đi chơi chưa có hẹn hò gì hết, chỉ là chòng ghẹo qua lại. Đùng cái thằng Mực bị đổ oan. Bữa đó nó vác bao nước đá vô quán rồi hổng chịu đi ra liền mà đứng nói chuyện với con Gái một hồi, lát sau bà chủ quán kêu mất cái điện thoại mười mấy triệu, mới để trên bàn lúc thằng Mực đứng đó, quán vắng, thằng Mực không lấy thì ai vô đây, hổng lẽ ma lấy. Bà chủ quán kêu anh chủ xe vô chửi sa sả, nói từ rày đừng ghé đây nữa, vậy là mất luôn mối đó, mất luôn cả tháng tiền hàng, anh chủ xe nói thằng Mực thôi bỏ đi, tao biết mầy không lấy, nhưng mà xui xẻo phải chịu, coi như tai nạn thôi, ai biết được.

bữa sau gặp nó, nói anh Hai chỉ em cái này chút, chỉ em cách cài phây búc vô điện thoại đi anh Hai, ớn thần hông, lơ xe mà bày đặt mậy, nó cười nói hổng có, tại bị đuổi nên hông có gặp con Gái thường, nhớ quá mới mua cái điện thoại này hết triệu rưởi bạc, nghe nói cái phây búc, cái ngày nào cũng nhìn thấy nhau, nói chuyện với nhau mà hổng tốn nhiều tiền, ừ, chỉ mầy luôn, được cái thằng Mực ít học chớ hiểu lẹ, chỉ chút biết liền, có điều nó đọc được mà viết dở ẹc, nửa tháng trời nó mới viết một câu cho ra hồn mà cũng năm bảy lỗi chánh tả. Sau nó đưa hình con Gái coi, thấy cũng được, mặt mũi sáng sủa, người hơi thấp nhưng mà nhìn dễ thương, mới chọc nó, ê mầy, có ghệ đẹp ráng giữ nghe, nó cười hớn hớn.

rồi thằng Mực cũng được minh oan, bà chủ quán gọi cho anh chủ xe, nói bắt được ăn trộm rồi, là con nhỏ chạy bàn làm chung với con Gái, bị khách vô uống café mất thêm cái điện thoại nữa, bà chủ quán để ý mới lục đồ nó, bắt tại trận, nó nhận là hồi đó nó chôm điện thoại bả chớ hổng phải thằng Mực. Bà chủ quán kêu lên xin lỗi, nói tui thiệt mang tội quá, cho tui trả tiền hàng rồi kêu chở hàng lại như cũ, cho thằng Mực với con Gái én nhạn gặp nhau, rảnh rỗi còn cho tiền hai đứa đi chơi, vô Đồng Diều chơi thôi.

...
sáng nay gặp thằng Mực chở con Gái, nó nói qua tuần rảnh đi ăn đám cưới em nghe anh Hai, giỡn thiệt mậy, nói thiệt, cũng hổng có tiền làm đám nhưng mà mỗi người cho một chút nên coi như có cái đám cưới, cũng đãi người quen với bà con thôi anh Hai, bà chủ quán nói cho tiền trang điểm áo cưới album chụp hình, do em bả có cái tiệm áo cưới gần đó, rồi cưới xong chủ quán cho hai đứa ở cái phòng trên gác của quán luôn, đỡ tốn tiền nhà trọ, anh chủ xe cho hai chục triệu mua sắm đồ lễ và đãi cơm dưới Cà Mau, chị chủ nhà hàng bên Đồng Diều nói đãi mười bàn chỉ tính tiền chợ thôi, tiền nhà hàng, tiền phục vụ coi như mấy anh em góp một tay, bia thì có vựa bia quen lấy giá vốn, nước đá đề bô tặng mười bao, mấy anh tài xế xe du lịch quen hứa cho mượn xe đưa dâu về tới Cà Mau, chỉ đổ tiền xăng thôi… thằng Mực kể một thôi một hồi, nói em mừng quá anh Hai, bàn tay gân guốc cầm chặt bàn tay nhỏ nhắn của con Gái, nụ cười trắng bóc trên gương mặt đen sạm, như mực, của nó.

Thứ Hai, ngày 15 tháng 9 năm 2014

di chúc



đó là xe mì gõ thuộc thế hệ đầu tiên, thời mà tiếng gõ còn phát ra từ một thanh tre đực bóng lưỡn, tiếng gõ nghe nho nhỏ thôi nhưng đanh gọn, mời gọi và vang xa, chứ không ồn ào như tiếng gõ của thanh nhôm bây giờ, thời mà cả người bán và người ăn mì biết nhau có lẽ đã gần nửa đời. Hai vợ chồng Sáu Quảng bán mì gõ đều không phải dân hẻm, cứ mỗi buổi chiều, tầm 6 giờ, thì lục đục dọn hàng đến, đến nửa đêm lại lặng lẽ dọn về, về đâu không rõ.

mì gõ Sáu Quảng có đâu chừng ba, bốn cái bàn, thực chất là cái vỉa hè duy nhất của hẻm, ngay trước một căn nhà có phía trước rộng rãi, của một bà lão, bà giáo Ba, người được cho là cư dân lâu đời nhất ở đây, tất cả cư dân hẻm đều xác nhận khi họ đến đây ở đã có nhà giáo Ba ở đó rồi. Trời mát thì quán bày bàn ghế nhiều hơn, trời mưa thì ít hơn, căng đỡ tấm bạt với cây dù, hủ tíu cũng có mà mì cũng có, mì xương, mì thịt và mì lòng, giá cả bình dân. Mì gõ Sáu Quảng chủ yếu là bưng đi khắp nơi, bưng hết thảy nhà trong hẻm, bưng cho mấy hẻm gần đó, hoặc cho mấy cửa hàng ngoài mặt lộ, cả xe ôm và sửa xe ở ngã tư, ai có tiền trả liền, không có cứ để đó, lâu lâu trả một lần, nhớ bao nhiêu trả bao nhiêu, chủ khách chẳng bao giờ đôi co, miễn nhớ trả tô trả muỗng giùm, lỡ làm bể cũng không sao luôn. Vợ chồng Sáu Quang lúc nào cũng cười.


hết tháng lại năm, Sài Gòn rộn rã, nhà Sáu Quảng vẫn bán xe mì gõ trước nhà của bà giáo Ba, một mảnh đất khá lớn, bề ngang tầm hai mấy mét sâu vô cũng vậy. Bà giáo ở với vợ chồng cô Út, còn 3 người con trai đã ở riêng, phần có lẽ do kinh tế cũng không đến nỗi, phần do ai cũng đồn đoán bà giáo Ba khó tánh, dâu con chịu đời không xiết. Mà có lẽ ba giáo khó tánh thiệt, thấy vợ chồng cô Út cũng ít nói chuyện với bà giáo, sáng đi tối về thinh lặng, trông bà lúc nào cũng cô đơn khắc khoải, cheo leo mình ên, ban ngày bà loanh quan trong vườn, buổi tối bà làm bạn với vợ chồng Sáu Quảng, lúc đông khách bà còn phụ bưng bê, dọn dẹp. Bà gọi vợ chồng Sáu Quảng là con, còn vợ chồng dĩ nhiên kêu bằng má, má Ba. Sau này vợ chồng Sáu Quảng gửi luôn đồ nghề trong sân nhà bà giáo Ba, dọn hàng xong vợ chồng chở nhau trên chiếc xe máy cà tàng về.

...

chuyện vậy thôi, ai mà sống đời được, bà giáo Ba đến lúc cũng qua đời, sau đám tang rình rang của bà giáo Ba thì đến màn di chúc, màn này được chờ đợi nhất bởi căn nhà bây giờ là cả một gia tài lớn, rất lớn. Di chúc bà giáo Ba chia mảnh đất thành 5 phần đều nhau, cho 4 người con và 1 phần cho nhà Sáu Quảng.

người khó ở nói vợ chồng Sáu Quảng gặp may, còn hơn trúng số, người biết điều nói không phải, tao như bà giáo Ba tao cũng cho vợ chồng nó, đất đai mà, chết có mang xuống dưới được đâu.


Thứ Sáu, ngày 12 tháng 9 năm 2014

được

được

1.
lần đầu đi miền tây dài ngày là năm 93~94 gì đó, hổng nhớ, là về Mộc Hóa, về nhà Nhựt chơi, ở dưới đó hơn tuần mà nhậu triền miên khói lửa tàn canh gió lộng, hầu như không khi nào tỉnh. Mộc Hóa là một huyện xa của Long An nhưng lại nằm trong vùng Đồng Tháp Mười, giáp sông Vàm Cỏ huyền thoại và có chợ biên giới với Cam. Thị trấn nhỏ xíu, có thằng miền trung vô như có khách quí, nhà nào cũng kéo qua kéo lợi, cá đồng chim chuột rắn rít điên điển so đũa có gì ngon đều đem ra thết đãi. Nhớ Nhựt có thằng bạn, tên Khanh, thằng này sau làm Công An, dễ thương lắm, có nụ cười hiền queo, thích nhứt là nó luôn nói "được", "êm", "bén" và "dịu", quán nầy được, gụ nầy êm, mồi nầy bén, em kia coi dịu quá . Khanh giải thích là ở đây, ở miền tây, người ta không có thói quen khen chê nặng lời, nên ít dùng chữ sách vở như tuyệt vời - tốt - xuất sắc- ngon - đẹp - xấu - dở - tệ..., ở đây người ta chỉ nói được hay hổng được, êm hay hổng êm, bén hay hổng bén, ngon lành hay hổng ngon lành... có gì dữ lắm thì thêm chứ quá, quá được, quá bén, quá êm, quá dịu... vậy thôi.

2.
sau nầy, đến đầu năm 96 về miền tây làm hãng xe, có mấy đứa trong hãng nó cũng khoái, chiều tối nào cũng kéo đi, không về nhà thì ra quán bình dân, bia bơm rượu bình suốt. Có lần gặp một bác nọ, là ba của thằng nhân viên, ông tên Được, Ba Được nhà ở Thốt Nốt, cũng ngang sông, nhà tuy nông dân nhưng cũng khá hiện đại, hiểu biết lắm, mới mời về nhà chơi, ra bờ sông uống rượu với canh chua lá me cá chốt, cá chốt sông con nửa cùm tay thịt trắng phau nấu với lá me non xanh rờn ăn với mắm nhĩ dằm ớt đỏ, uống rượu trắng... ta nói, thần sầu quỉ khốc với món canh nầy. Ngồi chơi, nói chuyện đến tàn cuộc rượu, thì Ba Được nói, thằng Hai, mầy được lắm. Mới hỏi lại là bác nói vậy là bác khen hay bác chê con, ổng mới cười lớn, tao nói mầy được là được chớ khen chê gì đâu

3.
sau nầy nữa, làm rể miền tây, rồi đi nhiều nơi, đi khắp miền tây, đi chơi uống rượu với đủ người, mới thiệt hiểu ra, được hay hổng được, êm hay hổng êm, là không khen cũng hổng chê, là nhân gian nói thôi, được chưa chắc đã tốt, hổng êm chưa chắc đã xấu, có thằng ăn cướp giết người mà người ta nói thằng đó được, cũng có thằng học hành đàng hoàng làm ông nọ bà kia mà người ta nói, thằng đó hổng được, làm điều gì đó mà người ta hỏi, mầy làm vậy coi được hông?, mầy thấy hổng được, hổng êm thì đừng làm, chứ không ai nói sai, nói trái chi đâu. Riết rồi không rõ cái gì được cái gì hổng được, bởi nó không có luật, bị nó đo bằng tấm lòng mà

4.
được, như một thứ tiêu chí chứng nhận mơ hồ nào đó, của tấm lòng, của người miền tây, di truyền từ thủa khai hoang mở cõi, thời chưa có luật pháp, người ta phải cư xử với nhau bằng tình nghĩa, và được, là chữ dùng cho người ở lại, với nhau, vượt qua lề lối, vượt qua khó khăn, để sống với nhau, sống được chơi được làm được, nhiều khi chỉ cần biết cầm cái ly ngửa cổ uống nghe cái ót, là được

Thứ Năm, ngày 11 tháng 9 năm 2014

có mất gì đâu

có mất gì đâu

đứng bóng, trời nắng, ở một ngã tư quận 10, đường lớn, tuy không đông nhưng xe cộ chạy khá nhanh, hai góc đường đều có hai ông xe ôm, cả hai đều đưa ngón trỏ lên trời khi thấy bất cứ khách bộ hành nào, thay cho câu rao, xe ôm đây, nhưng người trẻ hơn thì dõi mắt về phía khác của ngã tư, góc có phần đông đúc hơn,

- anh ơi, cho về chợ Pham Văn Hai
- rồi, cho em hai chục nha
- được, đi
- anh hai có gấp hôn? chờ em hai phút được hôn?
- được, đón khách nữa hả
- hông có, chờ em chút, nè đội nón trước đi

lúc này anh mới nhìn gã xe ôm, gã có lẽ trẻ hơn anh, chắc mới ngoài ba mươi, nước da đen bóng, bám vào khuôn mặt xương xương, giọng nói khàn khàn nhưng ánh mắt và điệu bộ tươi vui, lém lỉnh, vừa cài quai nón cho anh gã vừa nói, chờ em chút nha, em đợi coi thằng mù kia nó đi hướng nào.

từ hướng gã xe ôm khoát tay, xa phía góc kia ngã tư, có một người mù, một chàng trai không có tròng mắt trên vẻ mặt khá điển trai, với xấp vé số và cây gậy trên tay đang lò dò tới, đến gần lề đường thì người này dừng lại, đưa cây gậy đang cầm lên quá đầu, hướng về phía gã xe ôm.

nhanh như thoắt, chỉ bằng chục cái sải chưn, gã xe ôm đã có mặt phía bên kia ngã tư, một tay nắm khuỷu tay của chàng trai mù, một tay đưa ra khoát về hướng dòng xe máy đang lưu thông về hướng hai người bọn họ, như cách người ta dùng mái chèo rẽ nước, gã dẫn chàng trai mù băng qua ngã tư
qua đến đầu này, gã buông tay chàng trai rồi bật lên yên xe, vừa đẩy vừa đề, đưa cái xe nổ máy xuống lề đường, đi, anh hai.

Anh hỏi, mày hay dẫn người ta qua đường hả, gã cười, dạ, em ở đây, ai cần thì mình giúp, mấy bà già, mấy đứa nhỏ, người mù, ai sợ qua đường thì em hay dẫn phụ, bị chỗ này xe chạy lẹ quá, nhiều người ở quê lên đây khám bịnh ở bịnh viện ra hay mấy bà già là chịu chết, không dám bước qua luôn, mình phải lại dẫn người ta mới yên tâm

anh khen, ừ, làm vậy phải đó, chú thiệt là tốt bụng, gã cười lớn, em xe ôm mà, tốt bụng gì đâu anh hai, bà con mình không hà, phụ được gì thì làm thôi, có mất gì đâu, phớ hôn anh hai

Thứ Năm, ngày 28 tháng 8 năm 2014

phước

...

đó là một quán hủ tíu, bình thường như bao quán hủ tíu khác, ở Sài Gòn, có khác chăng là quán trông có vẻ sang trọng hơn tấm biển “hủ tíu bình dân 20.000đ”, quán chiếm trọn một khoảng sân của một ngôi biệt thự lớn, chỉ bán buổi sáng, khách rất đông, xe dựng tràn cả vỉa hè phía trước và bên hông, quán sạch, bàn ghế gỗ, tô dĩa sành màu trắng, đũa gỗ hồng và muỗng inox sáng tinh, rau xanh giá tươi nhìn bắt mắt, đông khách cũng phải

quán có rất đông người phục vụ, buổi sáng trời chưa tỏ đã có người đến, phụ chủ quán bày biện bàn ghế, sắp xếp gia vị, nhóm lửa bắc nồi xách nước, xắt thịt soạn giá rửa rau… người đến trễ hơn thì phụ coi xe, dẫn xe cho khách, dọn dẹp, rửa tô, lau khô, chạy bàn, tính tiền... người đến trễ nữa thì phụ dọn bàn ghế, rửa nồi, xếp lại lại tô chén, lau chùi cái sân cho sạch sẽ…

quán có rất đông người phục vụ, người chạy bàn thường là những người lớn tuổi, khách đến, họ ra lau bàn, hỏi khách dùng chi, xương nạc giò hay bò viên, rau giá hành ngò tiêu ớt thế nào, rồi vô báo lại cho chủ quán, chờ làm xong thì bưng ra bàn cho khách, đi phục vụ bàn khác. Khi khách dùng xong, họ lại đến bưng đi, dọn dẹp, rồi nhẹ nhàng rút xấp vé số ra mời khách mua, khách mua hay không thì họ cũng cảm ơn, tiễn khách trịnh trọng

quán có rất đông người phục vụ, có người lớn tuổi, có người tàn tật, có cả phụ nữ ẵm con nhỏ, nhiều người nói nhiều giọng, giọng bắc, giọng quảng, giọng nẫu, giọng huế, giọng miền tây… tuần tự ai đến lúc nào vô phụ việc lúc đó, ai mạnh làm nhiều ai yếu làm ít… tuần tự ai cũng được đãi một tô hủ tíu tú nụ, ai thích gì ăn nấy, tự lấy cho mình cũng được, dĩ nhiên là miễn phí, ai cũng được chủ quán han hỏi, cảm ơn chu đáo, ai làm xong ăn xong thì tản ra đi làm việc của mình, bởi họ là những người bán vé số, mua ve chai phế liệu hay xích lô ba gác… lòng vòng Sài Gòn.

quán đông khách lắm, hủ tíu ngon người ta mới ăn đông, khách gần đó có, khách từ xa tới có, khách đi SH, @ cũng có mà khách đi xe đạp, xe thồ cũng có, ai cũng được đối đãi lịch sự, vui vẻ. Mấy đứa sinh viên trọ học gần đó chỉ cần trả mười ngàn là cũng có một tô hủ tíu ngon lành, y chang người ta, đứa nào ốm yếu hay đến mùa thi còn có thêm cục giò, cục thịt, ăn cho khỏe có sức vóc học hành, mấy ông già xích lô, ba gác, ăn xong còn xin bịch nước lèo với cục xương hay mấy viên bò viên, đặng buổi trưa mua hộp cơm không chan vô ăn, cũng ngon lành… ai có tiền trả, ai không có thì đưa năm bảy ngàn, kẹt nữa cứ ăn thiếu, rồi có thì trả, không thì thôi, không ai kể.

hai ông bà chủ quán cũng già lắm rồi, đã gần tám mươi, nghe nói cả đời lam lũ. Căn biệt thự của quán hủ tíu là nhà con trai cả của ông bà, ông bà có năm người con, năm người này hằng tháng đều phải góp vốn vô xe hủ tíu, để ông bà buôn bán cho vui tuổi già.

hai ông bà chủ quán cũng già lắm rồi, ông bà có năm người con, ai nấy đều giàu có sang trọng thành đạt xe hơi nhà lầu, cháu nội ngoại của ông bà gần chục đứa, trai thời đều khôi ngô tuấn tú, gái thời xinh đẹp giỏi giang, đứa nào cũng ngoan hiền lễ phép, đứa nào cũng thông tuệ sáng sáng… người ta nói bọn nhỏ hưởng phước của ông bà, từ cái quán hủ tíu, bán buôn cái tình, ở Sài Gòn

Thứ Hai, ngày 04 tháng 8 năm 2014

bạn giàu,



bạn giàu,

nhận lời thằng bạn xưa, thằng Tâm, ba thằng ở Sài Gòn hẹn nhau đi thăm nó, nhà Tâm ở một huyện miền núi, cũng xa, nên ba thằng bàn nhau thuê cái xe, sáng đi tối về.

tới nơi mới biết Tâm giờ là một quan chức to ở huyện, thấy Tâm giàu quá, ba thằng tròn cả mắt, nhà cửa nguy nga như lâu đài, có cả hồ bơi, vườn kiểng, ao cá... Tâm dắt ba đứa đi giới thiệu mà giọng không giấu vẻ khoe khoang về tiền muôn bạc tỉ của nó. Khoe xong, biết bạn cũng đói, Tâm dẫn cả đám ra cái nhà hàng sang nhất huyện, ăn nhậu gọi toàn rượu tây đặc sản. Ba thằng bạn tiếc tiền, bảo gọi vừa thôi, chi tốn kém, Tâm cười ha hả, không lo không lo... Ăn nhậu đến chiều thì Tâm a lô cho một ai đó, là giám đốc một công ty xây dựng đến, gã giám đốc nọ sau màn chào hỏi xong thì kêu tính tiền rồi kiếu về, trả đâu hết gần hai chục triệu

trên đường về ba đứa cứ khen thằng Tâm giàu. Đi chừng hai chục cây số thì cái xe thuê trở chứng, khịch khịch rồi nằm luôn, đúng giữa khúc đường vắng, anh tài xế loay hoay sửa không được đành gọi cứu hộ từ Sài Gòn lên kéo xe về. Trời tối, đường vắng, may mà gần đó có quán tạp hoá nhỏ, ba thằng vô đó ngồi chờ. Quán lá nghèo nàn, vợ chồng anh Tư chủ quán vui vẻ, đến tối bèn bắt con gà sau vườn nấu nồi cháo đãi ba vị khách lỡ đường. Ngồi nói chuyện mới biết anh chị Tư là dân Kiên Giang, lên đây làm mướn rồi lấy nhau, mua đất, rồi nhờ chòm xóm góp sức cất được cái quán, vợ bán tạp hoá còn chồng sửa xe bơm vá, đủ sống, dù hơi nghèo nàn. Chuyện trò mãi, vợ chồng anh Tư và ba vị khách lỡ đường làm hết chai rượu trắng và nồi cháo gà ngon nhứt trần đời

xe taxi và xe kéo mãi đến gần nửa đêm mới tới, ba thằng đòi gửi tiền nồi cháo mà anh chị Tư nhứt quyết không nhận, anh Tư khoát tay, bữa khác rủi tui lỡ đường, mấy anh cũng cho tui ăn vậy, có gì mà tiền bạc chứ

lên xe, ngấm rượu, không biết đứa nào nói trước, ê, tao thấy anh Tư giàu hơn thằng Tâm bây, cả ba cùng gật, ờ, đúng vậy

đàn cò trắng sang sông

đàn cò trắng sang sông

1.
mới đây, hai vợ chồng đang từ miền tây về, đi ngang sông Vàm Cỏ lúc trời chiều chạng vạng, sương là đà phủ, mặt sông lục bình trôi xanh, bỗng thấy một đàn cò trắng dễ đến trăm con, đương bay sang sông. Đó là một cảnh tượng đẹp lộng lẫy, dĩ nhiên tôi không kịp lấy máy ảnh vì chạy xe trên đường cao tốc, nhưng cảnh tượng đó đã được lưu vào tâm trí tôi, như những cảnh tượng lộng lẫy khác mà tôi từng chứng kiến, như hai cái cầu vồng rực rỡ sau cơn giông biển ở Phan Rí Cửa, như đồi lau trắng bạt ngàn lúc uống rượu với A Khuê ở Đồng Xoài, như nửa đêm trăng lên đứng nhìn biển mây bồng bềnh trên đỉnh đèo Hải Vân....

2.
hôm rồi coi một cái phim, hình như là Blue Lagoon, The Awakening, phim cũng tầm thường, chỉ nhớ một cảnh, lúc hai bạn trẻ mới lạc lên đảo, họ vô tình đến một cái thác nước thật đẹp, chàng trai rủ cô gái chụp hình và tắm, nhưng cô gái chỉ muốn đi tìm khách sạn, đó là một cô gái nghiêm túc với ước mơ đậu vào đại học, hình như là Princeton . Chàng trai nói: cậu có biết có bao nhiêu người đậu vào trướng đó không? nhiều lắm. Còn có bao nhiêu người nhìn thấy thác nước đẹp này? Chỉ có chúng ta.

3.
nhiều người hỏi tôi, sao không đi chỗ này, sao không đi chỗ kia, ngắm hoa đào nở ở Nhựt Bổn, hay nhìn tuyết rơi ở Nữu Ước... tôi không có điều kiện để đi khắp thế gian đâu, mà tôi cần chi đi khắp thế gian, khi chỉ cần ra khỏi thành phố là gặp cảnh một đàn cò trắng sang sông, hay cảnh những chái nhà nhấp nhô trong biển lúa, hay nắng tỏa khói đốt đồng chiều... những cảnh lộng lẫy như thế.

4.
đôi khi chúng ta tự dằn vặt mình với thứ mà chúng ta không có được, mà không trân trọng thứ mình đang có. Ta không thể có mọi thứ, người á châu muốn có sự văn minh của người âu châu, người âu châu thèm sự phóng khoáng của dân phi châu...

5.
hãy nhớ rằng ta không thể có mọi thứ

Sài Gòn: một chuyện chép ở bịnh viện

Sài Gòn: một chuyện chép ở bịnh viện

- cô ơi bán cho hộp cơm không, cho xin bịch nước tương
- có liền, bà ăn cơm với gì vậy?
- thì ăn với nước tương đó, bị hết tiền, nhà dưới Cà Mau hổng gửi tiền lên kịp
- trời, dzậy bà vô kia lấy cơm từ thiện đi, cơm từ thiện ngon lắm, đủ thứ, có đồ chay đồ mặn luôn
- ủa, có vụ đó hả, mừng quá, cảm ơn con hén
- hổng có chi bà, bữa nào bà hổng có tiền thì ra đó lấy cơm nha, sáng có cháo, nui, trưa có cơm, mì chay, đồ ăn ngon lắm
- trời, sao có người tốt vậy cô
- có chớ, nhiều lắm, nhưng mà đều thì có vợ chồng nhà kia bên quận 7 nấu chở qua, nghe nói mỗi năm tới năm trăm triệu tiền cơm từ thiện
- nhiều quá, rồi ai cũng lấy cơm từ thiện thì cô bán buôn sao
- dạ hổng sao, ai người ta nghèo mới lấy cơm từ thiện, còn bình thường người ta vẫn mua cơm ngoài, con cũng bán được
- cảm ơn cô, thôi tui vô xin cơm trỏng

Bình Thường (1)

xưa tôi có thằng bạn, tên thằng Thường, hai anh em nó cách nhau 2 tuổi tên Bình và Thường, bình thường. Thằng này dân biển, đâu miệt Gò Công, nhưng nhà nó thì không đi biển, nhà nghèo lắm. Có nhiều câu chuyện hay, liên quan đến hai anh em nhà này, hôm nào rảnh rỗi sẽ kể, giờ kể chuyện nhỏ này cho nó thời sự trước

số là thằng Thường rất thường, không đẹp không xấu, không giỏi không dở, nhưng được cái chịu làm, mà làm công chuyện cũng thường, nó chuyên bao mối chạy bàn cho các đám cưới, chính nó giới thiệu tôi làm một chân chạy bàn thời gian. Nó đi làm sớm, mới năm ba đã mua được xe máy để đi làm, bạn bè nể phục lắm, dù chỉ là chiếc Cup78, đạp 7-8 cái mới nổ.

một lần kia thấy nó đi xe đạp trở lại, hỏi xe máy đâu, nó bảo mất rồi. Thì ra thằng Thường cho một thằng bạn ở chung mượn xe đi chơi với bạn gái, thằng kia dựng xe sao để trộm lấy mất, mà nhà thằng kia còn nghèo tợn, không biết lấy gì đền cho Thường, gặp Thường lắp bắp xin lỗi, hứa đi làm kiếm tiền đền lại. Thằng Thường khoát tay, nói câu rất hay, số cái xe này mất, mầy không làm mất thì tao cũng làm mất, anh em mà, thôi khỏi đền đi. Thằng bạn cảm kích lắm, anh em cũng cảm kích, hóa ra nó không thường chút nào

sau này nghe thằng Thường giàu, rất giàu, tôi không lạ, nó chắc chắn là thằng giàu, không giàu tiền bạc cũng giàu tình nghĩa

Bình Thường (2)

lại kể chuyện anh em nhà thằng Bình, thằng Thường hai chục năm xưa. Như đã nói ở trên, hai anh em nó thầu chạy bàn đám cưới, cả đám bạn nhà trọ, đám bạn bè nó quen biết, nó đều dắt đi chạy bạn đám cưới ráo trọi, cứ một đám là ba chục ngàn, đám lớn hoặc buổi tối thì bốn, năm chục. May gặp đám trưa tuy nắng nóng chút nhưng nhanh gọn, ăn vù cái xong giải tán, còn gặp đám tối nhiều khi tới 10~11 giờ đêm chưa vãn.

hồi đó công việc làm thêm cho sinh viên chưa nhiều, mấy việc dạy kèm này nọ đều có những thằng nhanh chân thầu như thế (kiểu trung tâm giới thiệu việc làm bây giờ), và thường thu lại phí của người tham gia, ví dụ có sô dạy kèm 200 ngàn/tháng thì thằng môi giới nó giao cho mình nó lấy mất hai chục, nhiều chỗ lấy nửa tháng đầu. Mà nói thiệt là dạy kèm vất vả quá, nhứt là đối với tôi, vì bài tập của bọn con nít càng lúc càng khó, giải ong cả thủ, nên tôi thà đi làm bốc vác hay chạy bàn còn ngon lành hơn nhiều, tuy không cao sang quyền quý bằng nhưng đỡ long óc hại não. Anh em thằng Bình thằng Thường thì không có vụ lấy tiền môi giới kiểu đó, nó lãnh chạy bàn đám cưới nhưng mà nó cũng chỉ ăn công như mọi người, chỉ nhận việc gọi người kiêm quản lý thôi, không ăn đồng giới thiệu nào của anh em cả, dù nếu có cũng chẳng ai nói gì. Mấy đứa quen nó đưa vô làm còn cho mượn năm ba chục ra mua cái áo sơ mi trắng bận, còn tận tình chỉ bảo cách đi đứng, bưng bê ra sao cho đúng nữa.

có bữa đó có người khách dự đám cưới ở bảo tàng Tôn Đức Thắng để quên cái bóp đầm, cái bóp cũng thường, trong đó có cái bằng lái xe máy, giấy chứng minh, chút đồ trang điểm và mấy trăm ngàn, thằng Thường lãnh trách nhiêm ngồi chờ khách quay lại để trả, mà đợi hoài không có ai tới lấy, buổi chiều lại có đám cưới khác nên mãi đến chủ nhựt, nó lấy xe đạp đi đến địa chỉ ghi trên bằng lái xe để trả, đi lòng vòng mất cả buổi trưa mới tìm đúng nhà. Bữa sau anh em hỏi nó, có mấy trăm ngàn mà mày phải đem trả chi cực khổ dữ vậy. Nó nói, bình thường chớ không triết lý chi hết, tao đâu có trả cái bóp không, tao trả niềm tin nữa

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...