Thứ Năm, ngày 11 tháng 6 năm 2015

Sài Gòn, sà bì chưởng



Sài Gòn, sà bì chưởng

giang hồ có lời đồn đãi rằng, năm xưa, có một cuộc tỉ thí võ lâm chưởng pháp ở Sài Gòn, các môn phái giang hồ tự khắp thiên hạ với các chưởng phái huyền thoại như kim cang chưởng, hàng long thập bát chưởng, hàn băng chưởng… cùng tụ về Sài Gòn so cao thấp, đến ngày tỉ thí thì nghe nói không biết tại sao bỗng nhiên đệ tử các phái đều đồng loạt tự giải tán, mỗi người tự phế bỏ võ công, giã từ môn phái, ở lại Sài Gòn, người chạy xe ôm, kẻ làm tài phán, nhứt định không trở về cố xứ nữa… sau tìm hiểu thì được biết, tất thảy họ đều trúng một thứ chưởng vô địch thiên hạ, kêu bằng “sà bì chưởng”

...
sà bì chưởng là nói lái của sườn bì chả, là bộ tam huyền thoại của món cơm tấm Sài Gòn, món mà nhìn theo khía cạnh văn hóa ẩm thực, là “chưa ăn coi như chưa đặt chưn tới Sài Gòn", mà thiệt tình là vậy, chưa dính sà bì chưởng coi như chưa đặt chưn tới Sài Gòn. Tại sao lại là cơm tấm và tại sao lại kèm bộ tam sườn bì chả huyền thoại này, đó là cả một câu chuyện dài gắn liền nhiều biến cố văn hóa và lịch sử nữa, ở góc độ một người yêu thương Sài Gòn, tôi chỉ viết về những cảm nhận bên lề món cơm tấm nổi danh thiên hạ này.

...
cơm tấm, dĩ nhiên là cơm nấu bằng tấm, tấm trong tấm cám, là một phế phẩm, là những hạt gạo bể trong quá trình xay xát gạo. Ngày xưa, thời lúa gạo đầy bồ, tấm thì dành nuôi gà cám thì dùng nuôi heo, rồi gà heo lại nuôi người, chưa ai nghĩ dùng tấm để ăn. Sau ở miền tây nước nổi mấy tháng liền, gạo ăn cũng hết mà đất không có để thả gà, dân tình bèn dùng tấm nấu ăn thử, thấy ngon, tự đó có món cơm tấm ra đời. Cơm tấm xưa chỉ là dân cắt lúa, vác lúa mướn hoặc dân làm đồng xa nấu ăn, vừa chắc bụng lại vừa ngon miệng. Gạo tấm nở ít, lại dính nhựa gạo và còn nhiều bụi cám nên rất khó nấu, nhưng nấu đúng cách ăn kèm món gì cũng ngon, no lâu và rất bổ, thường được dùng nấu bữa sáng, vừa đỡ ngán vừa no luôn tới trưa.

...
rồi người Pháp qua đầy Sài Gòn, có xe đò lục tỉnh, xe lửa Mỹ Tho, Hóc Môn, có đò khách xuôi Bến Nghé, Chợ Lớn, có đường xá hàng quán mọc dài theo lộ xe, theo từng thị tứ… món cơm tấm bắt đầu được chuộng nhiều hơn, như một bữa sáng chợ, tuy nhiên để cho nó trở nên văn minh tây phương, có thể bán cho dân buôn, công chức hãng sở, cho lính Pháp, hay lính Mã Tà, cho người Hoa, người Ấn… món cơm tấm không giống, hoàn toàn không giống một món cơm bình thường, nó được phục vụ trong dĩa, ăn với muỗng nĩa chứ không dùng chén đũa truyền thống.

thời này, cũng tương tự như bánh mì Sài Gòn, cơm tấm là một biểu tượng mang tính huyền thoại của giao thoa văn hóa ẩm thực đông tây nam bắc, cơm tấm ăn bằng dĩa với muỗng nĩa, ăn kèm thịt nướng kiểu người Pháp, bì thính của người bắc và chả chưng của người Việt gốc Hoa. Ngoài thành phần chánh, là tấm để nấu cơm, và “sườn bì chả” vay mượn, thì người Sài Gòn đưa vào món cơm tấm hai thứ tuyệt vời, hai thứ quyết định độ quyến rũ của món ăn huyền thoại này, đó là nước mắm chua ngọt và mỡ hành. Nước mắm chua ngọt và mỡ hành thường dùng ăn kèm bánh hỏi heo quay, (nói nhỏ là món này miền tây có Phong Điền là bá chủ, hôm nào rảnh rỗi sẽ biên tiếp), nhưng khi kết hợp với cơm tấm tạo ra một món ăn bá đạo, chính mỡ hành làm cho hạt tấm, cùng với vị cám nồng, trở nên béo và thơm hơn, bớt rời rạc hơn, và nước mắm chua ngọt sẽ thõa mãn tất cả các yêu cầu còn lại của mọi cái lưỡi, dù khó khăn đến đâu chăng nữa.

...
khi người Mỹ đến Sài Gòn thì cơm tấm là món ăn đường phố được phổ biến nhiều rồi, các tiệm cơm tấm lớn bắt đầu hình thành chớ không còn chỉ là hàng quán bờ bụi hẻm hóc bờ kinh bến xe nữa. Món cơm tấm trở thành món điểm tâm được ưa chuộc bậc nhứt Sài Gòn, từ công hầu vương tướng cho đến xích lô ba gác đều dùng được, và đi kèm với dĩa cơm tấm sườn bì chả bốc khói thơm lựng mỗi sáng, là ly café đá Sài Gòn, cũng huyền thoại không kém. Café đá kiểu Sài Gòn không thể nhái được, nó pha bằng vợt, bột café phải rang khen khét với vị bắp cháy kèm một giọt mắm nhỉ và một mẩu bơ nhỏ, đá được bào mịn, café được oánh cho lên bọt trắng… kiểu vậy. Sáng dậy làm đúng hai món này coi như đã đến Sài Gòn.


sau này, kinh doanh cơm tấm phát triển mạnh mẽ, lượng tấm tự nhiên không đủ cung ứng nên người ta “xay lại” gạo thành gạo bể, dùng thay gạo tấm, cái này làm dở cơm tấm đi rất nhiều, bởi gạo bể do xay lại sẽ thiếu mất phần nhựa gạo và bột cám, làm hạt cơm tấm lúc này không còn ngon như trước, dù dẻo hơn và thơm hơn, nhưng không ngon hơn. Giờ cơm tấm cũng đa dạng hơn rất nhiều, ngoài món chính là sườn bì chả thì có gà, ốp la, mực, đậu, lạp xưởng… nhưng chỉ là phục vụ khách ăn trưa, ăn tối, chớ điểm tâm thì dứt phát phải là “sà bì chưởng” mới đúng điệu


sườn nướng là thành phần cơ bản, là anh cả của bộ tam quyền lực “sà bì chưởng”, quán nào lựa sườn đẹp, ướp sườn ngon, nướng sườn đều, mềm vừa, thơm lựng, ngọt lịm... là quán đó đông liền. Nhiều quán đông bán mỗi ngày mấy thau sườn ướp, có quán mà hai con bé quạt than nướng sườn đứng kế nhau mà quanh năm không nhìn thấy mặt nhau vì khói bay mịt mù. Miếng sườn đẹp là có miếng xương, dải thịt dày mềm, có một viền mỡ mỏng… có nhiều cách để ướp sườn ngon các bạn có thể tham khảo trên mạng, riêng cá nhân tôi, tôi hay dùng nước mắm ngon kết hợp với sữa đặc hiệu “ông thọ” thay cho đường, bảo đảm sườn mềm và thơm ngất trời, ngọc hoàng thượng đế còn muốn bỏ xuống trần gian.


buổi sáng mấy quán cơm tấm thường đặt đầu hẻm, lò than đốt trước, rồi khi đặt miếng sườn đầu tiên lên, thằng cha chủ quán mới lấy cái quạt máy, chơi ác đạn chĩa quạt vô lò đẩy khói bay thẳng vô hẻm, luồng khói than cuộn theo mùi sườn nướng thơm dậy trời theo con hẻm vào từng nhà, đánh thức khứu giác của từng người. Rồi như một phép màu, lần lượt cư dân hẻm sẽ ra, người đóng bộ đi làm hãng sở, trẻ nít đồng phục đến trường, ghé qua mần dĩa cơm tấm, lứa sau là các bạn làm khuya dậy trễ hay người già tập thể dục về, vô quán hoặc ra ngồi quán café cóc gần đó, đưa ba ngón tay cho chủ quán, vậy là có dĩa “sà bì chưởng” qua tới bàn café…đó là cách mà chưởng pháp “sà bì chưởng” vận hành cả cái Sài Gòn nầy.

…nhiều người đi xa nhớ Sài Gòn, cũng chưa biết mình nhớ gì, bị trúng chưởng rồi mà, nên tôi chắc rằng, họ nhớ mùi sườn nướng buổi sáng, nhớ lúc đóng bộ ra đầu hẻm, đưa ba ngón tay gọi “sà bì chưởng”, kèm ky café đá khen khét, lật tờ nhựt trình đầy tin cướp giựt truy nã, rồi chéo chưn ngồi nghe tiếng xe máy chạy ầm ì, vậy thôi, mà nhớ

...






bài: Đàm Hà Phú / Người Lữ Hành Kỳ Dị
share mạnh không cần hỏi, ghi rõ nguồn khi phát hành lại
hình: sưu tầm trên mạng

Thứ Sáu, ngày 24 tháng 4 năm 2015

"tứ quái Sài Gòn"



"tứ quái Sài Gòn"

hôm qua đi nhậu ở một quán đẹp, Ngã Ba Sông, nghe nói của vợ chồng Hồng Vân, có một bàn phía trong góc, ba người đàn ông ngồi lặng lẽ, họ tầm ngoài năm mươi, người thứ nhứt trắng trẻo, đeo kính trắng, bệ vệ như chính trị gia, người thứ hai sang trọng và sành điệu kiểu doanh nhân, và người đàn ông thứ ba thì khác hẳn hai người kia, ông ta đen nhẻm, trông già hơn và khắc khổ với bộ quần áo lấm lem đầy dầu mỡ. Điều kỳ lạ là trên bàn có bốn bộ chén dĩa, cái chén thứ tư được gắp thức ăn đầy đủ, thỉnh thoảng người đàn ông thứ ba còn mồi một điếu thuốc để trên dĩa ở cái ghế trống...


lúc vào toalet, mình có gặp người đàn ông thứ ba, mồi điếu thuốc hỏi chuyện, ông nói ông làm nghề sửa xe máy, và cái bàn nhậu đó là nhóm bạn thân "tứ quái Sài Gòn" của ông, là hồi xưa thôi, chứ bây giờ chỉ còn ba người, người thứ tư đã hy sinh ở biên giới Tây Nam năm bảy chín. Ông hất hàm về phía góc bàn có cái chén đầy đồ ăn và điếu thuốc cháy trên dĩa, bữa nay là ngày giỗ của nó, ba mươi mấy năm nay, tụi tui vẫn gặp nhau ngày này, mỗi lần một chỗ khác nhau, ở Sài Gòn, đặng uống với nó ly bia, kể cho nó nghe chuyện mỗi đứa, chuyện "tứ quái Sài Gòn"

Thứ Tư, ngày 22 tháng 4 năm 2015

Sài Gòn, không so sánh



Sài Gòn, không so sánh

1.
có một cái clip xôn xao trên mạng, vụ cô gái cởi trần truồng vừa đi vừa khóc giữa Sài Gòn, trong clip có một anh nọ chạy xe máy theo, cầm một chiếc áo bắt cô mặc vào, cô không chịu mặc áo và luôn miệng gào khóc “chồng em nó bỏ em rồi”, anh nọ vừa nhẫn nại vừa kiên quyết bắt cô mặc áo vào, luôn miệng nói, “biết rồi, mặc áo vô đi”. Rất ít ai nói về người đàn ông này, đó là một người đàn ông lực lưỡng, trông bình dân và giản dị, một người vô danh trên mạng với cách thể hiện tinh thần đồng loại rất Sài Gòn, hào sảng và ấm áp.

2.
từ chuyên vượt rào như chiếm bắc bộ phủ ở CV nước Hồ Tây, giờ lại nảy ra cuộc chiến vùng miền, và tôi tự hỏi, các bạn cãi nhau năm này qua tháng nọ, để làm gì? chúng ta là đồng bào mà, chẳng phải người SG bây giờ cũng là người HN ngày nào sao?. Các bạn so sánh SG - HN không nhằm mục đích ca ngợi người SG, mà chỉ đơn giản muốn dìm hàng người HN, nếu đúng người Sài Gòn, như người đàn ông trong clip tôi kể trên, tôi tin anh chẳng mấy khi lên mạng, và nếu có, chắc anh cũng chẳng xúm vào chửi thằng chồng bội bạc hay bọn đàn ông thô lỗ trong clip Hồ Tây, và chắc hắn anh chẳng bao so sánh SG – HN. Khi thấy một cô gái trần truồng đi ngoài phố, không cần biết cô gái ấy là ai, đến từ đâu, anh biết mình phải làm gì, rất đơn giản và thiết thực, và rất đỗi con người.

3.
các bạn hay hỏi rằng, tại sao Sài Gòn là đất của dân nhập cư, mà sự hảo sảng và tình nghĩa của nó có thể chi phối mọi người, ai đến SG rồi cũng ít nhiều thay đổi, có cái nhìn phóng khoáng hơn và biết cách để “sống” hơn, họ biết cách cho đi nhiều hơn, bớt toan tính và mưu cầu hơn, và cái họ nhận được cũng nhiều hơn. Câu trả lời có lẽ là vì dân Sài Gòn không dành nhiều thời gian để ghét người khác, họ không thần tượng lòng tốt và ghét cái xấu, không có nhiều ranh giới tốt –xấu đối với người Sài Gòn. Chỉ có được và hổng được, được nghĩa là được, là tốt, là ô kê, còn hổng được thì thôi, hổng sao. Chính cái quan niệm đơn giản này nên người SG không coi việc gì là tốt, giúp người khác là chuyện phải làm, mà không giúp thì coi hổng được, vậy thôi.

4.
(nhơn tiện, là một người viết về Sài Gòn, về những câu chuyện tích cực ở Sài Gòn, tôi cực kỳ bài kích những từ như “lòng tốt”, “người tốt việc tốt”, “tấm gương tốt”… xin đừng nói mấy chữ đó, nó tầm thường hóa người Sài Gòn, bởi người Sài Gòn họ coi chuyện đó là bình thường, là chuyện nhỏ, thậm chí họ chẳng nhớ, hoặc giả họ kể chung với mấy chuyện khác, như chuyện thằng con mới có bồ hay chuyện bà vợ đánh con dê đầu đuôi cả sáu đài từ đầu năm tới giờ mà chưa vô lần nào, vậy thôi)

5.
có câu này hay, sự giận dữ giống như mình uống thuốc độc mà mong kẻ khác chết. Quá hay, chửi người khác không làm mình tốt hơn hay vui hơn, chê Hà Nội không làm Sài Gòn đẹp hơn, Sài Gòn là Sài Gòn, là bạn là tôi, là mọi người, không phải ai và cũng không so sánh với ai hết. Quay lại người đàn ông trong clip mà tôi nói ở mục 1, anh chẳng phải người tốt, chắc chắn anh không nghĩ mình tốt, và anh cũng chẳng phê phán ai là người xấu, anh chỉ đơn giản làm việc mà anh thấy cần làm. Chúng ta cũng nên như vậy, thay vì ào ào lên mạng đả kích người khác, hãy làm cho chính mình thoải mái, hào sảng, yêu thương và ấm áp hơn, vậy là được rồi

...


Thứ Ba, ngày 07 tháng 4 năm 2015

tình cặp vịt đôi bông,



...
nó tên giấy là con Mía, thứ Ba, quê Hậu Giang. Tên Mía nghe quê thiệt nhưng nó cũng thương lắm, là do sự tích cái tên này cũng ly kỳ. Chuyện là hồi xưa ba má nó lấy nhau, nhà ngoại mới cắt cho ba công đất, coi như ra riêng. Ba công đất này khó làm, có nước thì bị phèn mà thiếu nước thì khô hạn, mỗi năm trồng được một vụ lúa một vụ màu, làm rất cực mà hai vợ chồng với đứa con đầu không đủ ăn.

anh Hai con Mía bị bịnh rồi mất lúc mới hai tuổi, một phần do nhà nghèo quá không có tiền kịp chạy chữa cho con. Lúc đó ba má con Mía như chết rồi, bỏ bê đồng áng, không thèm ngó ngàng gì nữa, má nó nằm bẹp trên bộ ngựa, ba nó ôm cây đờn phím lõm ngồi bậu cửa uống rượu, nước mắt chảy hoài. Rồi bà con cô bác mới tới, nói thôi ráng sống chớ vậy coi sao được, ba nó mới gượng dậy, vác cuốc ra thăm đồng, tự nhiên thấy có mấy bụi cây mía non mọc lên theo bờ. Ba nó mới nghĩ bụng, hay bỏ lúa trồng mía. Nói rồi xới đất, đi mua hom làm luôn.

năm đó nhà máy đường thu mía giá cao, vợ chồng trúng lớn, rồi sẵn chớn mới có bầu con Mía, nụ cười trở lại với gia đình nhỏ ấy, ba nó đi đâu cũng nói nhờ thằng Hai độ, lúc biết có con gái ba nó mới đặt tên là con Mía, nửa nhớ ơn cây mía nửa mong sau này nó có giọng ca ngọt như mía, bởi nhà nó ngoài làm nông còn có nghề đờn ca tài tử, mà chưa ai thành danh, chỉ quan quẩn mấy đám gần nhà với câu lạc bộ xã.

rồi con Mía lớn lên cũng gọi là có chút nhan sắc như người ta, một phần nhờ anh Hai nó độ nên nó có giọng ca ngọt thiệt ngọt, mười ba mười bốn tuổi ngồi chiếu ba nó đờn cho nó ca được mấy bản vắn, mười sáu tuổi ca được trọn sáu câu, mấy bản dài, vô vai cũng được. Con Mía ca thì ngọt nhưng nó bị hen, nên cụt hơi, ca theo đờn ba nó thì được còn người ta đờn nó ca rớt nhịp, đi thi giải Hậu Giang rớt, giải Bạc liêu cũng rớt, nên cũng ca làng ràng gần nhà, chủ yếu cho vui. Con Mía có thêm hai đứa em nữa, đều là trai hết, mấy năm sau này nhiều người bắt chước trồng mía, mía rớt giá thê thảm, nên nhà con Mía nghèo lại hoàn nghèo, chật vật với mấy miệng ăn, chưa kể học hành.

con Mía kể nó có bồ dưới quê, hai đứa yêu nhau từ lớp mười, thằng kia tên Thành, đúp học hai năm thành ra lớn hơn nó 2 tuổi, hết lớp mười cái nhà nghèo quá, mẹ chết sớm nên thằng Thành bỏ học đi làm mướn. Con Mía thì ráng hết cấp ba rồi cũng thôi. Hai đứa con thương nhau mà chắc ông Trời thử lòng hai đứa đó chú, giờ mà có lấy nhau thì rồi cũng như ba má con, ba má ảnh, cũng ruộng vườn, rồi cũng nghèo nữa, khó tính thiệt. Cái bữa đó ảnh kêu con ra bờ ngồi, ảnh bàn tính một hồi, tụi con mới hẹn là tạm xa nhau hai năm, ảnh qua Bạc Liêu làm tôm, con lên Sài Gòn đi ca. Hai đứa để dành tiền trong hai năm, rồi quay về gặp nhau, nếu còn thương nhau thì tính tiếp, còn không thì coi như chia tay.

thằng Thành qua Bạc Liêu làm mướn cho nhà nuôi tôm, nghe nói ngày được trả trăm rưởi bao cơm, nếu nó tính đúng thì hai năm nó phải dư cỡ tám chục triệu. Dư sức làm nhà, lấy vợ, sanh con. Còn con Mía lên ca cho vui, cho thỏa chí, bởi vậy khi thỏa thuận vụ này, thằng Thành coi như thiệt, nó sợ mất con Mía, nắm tay dặn hoài, sau này Mía có thương ai khác thì nói tui hay, đặng tui khỏi chờ. Con Mía cười ngất, nói, gì mà tính kỹ dữ, yên tâm đi, có gì tui thơ cho hay. Mía lên Sài Gòn là cái mộng từ lâu, nên dù thiệt bụng thương Thành, nó cũng dứt áo đi một phen, nó muốn có gì đó thay đổi, kiếm tiền để phụ cha mẹ, lo cho em nó, tự hứa với lòng là hai năm sau sẽ đền lại cho Thành . Mía lên Sài Gòn lấy nghệ danh là Thanh Huyền, thanh huyền Thành đó mà, yên tâm chưa.

con Mía lên Sài Gòn theo một chị bạn ca, chỉ giới thiệu đi ca mấy quán nhậu, một đêm được hai, ba trăm tùy chỗ, mà thường chỉ ca cuối tuần. Thu nhập cũng không cao, mà tiền nhà trọ, tiền quần áo son phấn nhiều quá, thành ra con Mía cũng không dư mấy. Bữa đó ca xong có ông khách lên tặng bông, hẹn lát gặp chút. Ca xong xuống bàn ổng chơi, ông chú cũng trọng tuổi, cỡ cha con Mía, ổng boa thêm năm trăm, ngồi nói chuyện một hồi, rồi bất giác ổng mới rủ con Mía. Ra Hà Nội ca không cháu?

ông khách này mê vọng cổ, ổng có một nhà hàng ở Hà Nội, thực ra nó là cái quán rượu thì đúng hơn, chuyên các loại rượu và đặc sản miền núi phía bắc. Ông muốn đưa con Mía ra ca, ca y như ở Sài Gòn, cho khách thưởng thức lúc rượu thịt. Con Mía so đo hoài, không dám đi, nào giờ nghe nói thôi chớ có biết Hà Nội nó ra sao, người ta thế nào, đất lạ quê người biết có sống nổi không. Ông khách nọ đưa ra cái giá mà nó chịu luôn, tháng mười triệu, ca ít ca nhiều gì cũng nhiêu đó, bao cơm nước chỗ ở, cho thêm 2 triệu tiền son phấn quần áo, ổng hứa là không có chuyện gì, nếu có chuyện gì ổng đền gấp đôi lương, giờ đưa trước ba tháng lương làm tin, chịu liền.

con Mía, lúc này là nghệ sĩ Thanh Huyền ở Sài Gòn ra ca ở Hà Nội, là một chuyện lạ, độc đáo, nên khách tới quán rất đông. Chỉ có điều là con Mía không dám cho ba má nó hay, sợ tới tai thằng Thành nên nó bỏ cái sim điện thoại luôn, đổi số mới chỉ dùng để gọi cho ba má nó thôi, coi như nó vẫn ở Sài Gòn.

ở Hà Nội không có thầy đờn, không tìm đâu ra một ai biết đờn tân cổ, không tìm đâu một cây phím lõm, nên chỉ ca mở đĩa. Đĩa thì con Mía thu sẵn được hai chục bản tân cổ với mấy khúc trích đoạn mà nó thích, thành ra quanh đi quẩn lại cũng ca chừng đó bài. Rồi mùa đông năm đó, lần đầu tiên con Mía biết cái lạnh Hà Nội. Ta nói, nó lạnh thấu xương chú ơi, con bận ba cái áo mà chưn tay còn run bần bật. Trời lạnh làm bịnh hen của Mía thêm nặng, nên nó đổ bịnh, nằm xẹp lép trong nhà trọ. Ông chủ nhà hàng mới ghé thăm, mua cho tô cháo, mua thuốc cho nó uống. Tự nhiên rồi không biết ai ác miệng, đồn ông chủ nhà hàng cặp bồ với nghệ sĩ Thanh Huyền, làm người ta có bầu.

làm gì có chú, con Mía thanh minh, ổng đường hoàng lắm, người ta đáng tuổi cha chú, đâu có làm bậy, chú đó tội lắm, bị oan mà không kịp nói gì, bị chú cũng thương con, đem con ra Hà Nội nên chú phải lo, chứ cả tháng trời nằm bẹp có đi ca được ngày nào đâu mà chú cũng phải tính lương. Bữa đó con Mía chưa kịp dậy thì ông chủ mang cháo tới, không nỡ kêu nó dậy nên mới để cái cà mên cháo ở đầu giường rồi về.

khi ông chủ vừa quay xe ra khỏi nhà trọ thì bà vợ ông chủ cùng ba người nữa xông vào, cứ thế nắm tóc, đấm đá cho con Mía một trận tơi tả. Là đánh ghen. Bà vợ ông chủ trút hết cơn hờn giận lên người cô gái bé nhỏ, lại đang bịnh, bà còn la làng cho mấy người khác đá vào bụng dưới cô, để cho nó hư thai đi, nghe bà hét vậy, mà oan quá, nào có cái thai nào ở đó. Rồi bà hất cả cà mên cháo nóng vào mặt con Mía, dùng kéo xởn hết tóc trên đầu nó, nói chung là đủ trò tàn bạo. Con Mía kể lại mà ánh mắt còn thất thần như mới hôm qua.

con Mía được mấy bạn trọ chăm sóc, rồi gom tiền đưa nó ra bến xe, về thẳng Sài Gòn. Con Mía về Sài Gòn nằm tiếp trong nhà trọ thêm ba tháng, phần chờ cho tóc mọc ra chút ít, phần vì quá kinh hãi, không dám ra đường. Cũng may nhờ chị bạn che chở, lo cơm nước rồi cho còn cho tiền để con Mía gửi về nhà, y như là đang đi ca bình thường.

lại nói chuyện thằng Thành. Thành làm dưới Bạc Liêu cũng không bền, bị nhà chủ chửi mắng hiếp đáp quá, hở chút trừ lương, chán quá nó cũng bỏ lên Sài Gòn, qua Cần Giờ làm mướn tiếp, cũng trong mấy vuông tôm, chuyên tay lưới đi thu tôm, được trả công theo mẻ, có mẻ năm trăm có mẻ hai trăm, tùy vuông lớn vuông nhỏ, xa hay gần, có ngày làm hai mẻ mà cũng có ngày chơi không, nhưng tính ra cũng dư giả hơn làm công nhựt. Thằng Thành mất số con Mía từ lúc nó ra Hà Nội, nên cứ tối cuối tuần là nó lên Sài Gòn, lang thang mấy tụ điểm ca cổ tìm con Mía, tìm hoài chưa gặp.

bữa tối đó, lúc sắp hết cái hẹn hai năm của hai đứa, con mới nói, thôi đi ca lại một bữa, coi như chia tay nghề, cảm ơn tổ phụ, rồi về quê. Đang ca thì con nhìn xuống thấy ảnh ngồi dưới, con ca rớt nhịp mấy lần. Lúc ca xong chạy xuống thì kiếm ảnh không ra, lúc đó nhìn lên thấy ảnh lên sân khấu xin ca, con đứng dưới mà nước mắt chảy dài. Ảnh lên ảnh nói ảnh ca tặng Thanh Huyền, hay cô Mía của ảnh, ca bản tình nghèo, mà ảnh hò vô câu vầy “Hò ơ... (chớ) người ta giàu đầu heo nọng thịt / tụi mình nghèo cặp vịt đôi bông / sao mai mọc buổi hừng đông / ước sao nên vợ.... (ờ) / hò ơ... (chớ) ước sao nên vợ nên chồng thì thôi…”


lúc con về nhà thì ba má mới cho hay, là có một ông từ Hà Nội vô kiếm, theo cái địa chỉ ghi trên chứng minh lúc đăng ký tạm trú vậy mà ổng mò ra nhà hay thiệt. Ông chủ vô đưa cho nhà nó một trăm triệu, đúng mười tháng lương, năm tháng con Mía ca, năm tháng ổng đền như đã hứa, mừng hết lớn đó chú Hai, bởi con biết ổng đường hoàng con mới đi theo ổng, lúc này anh Thành biết rồi, con cũng tình thiệt với ảnh.


tụi con làm đám cưới vui lắm, làm dưới quê thôi, nhóm họ đãi bên nhà con, rước dâu xong là đãi nhà anh Thành, uống rượu đế mà ca suốt từ sáng tới chiều, có bản “đám cưới trên đường quê” thôi mà ca tới mấy chục bận. Anh Thành không chịu bận đồ vest, nên con với ảnh bận đồ bà ba, quấn khăn rằn luôn, vậy mà ba má con với cô bác chịu lắm nha, cứ xuống tiếp khách, uống chung rượu, rồi lên ca, vui hết biết…

tôi gặp vợ chồng con Mía lúc ở Cần Giờ, con Mía theo chồng lên đây, mới đầu cũng làm mướn, rồi mới đây nghe nói hai vợ chồng nó đụt hai vuông, người ta cho nợ giống, nợ thức ăn, nợ thuốc... thu hoạch mới trả. Nghe nói vợ chồng nó thuận hòa, bà con thương, ông Trời thương, làm vụ đầu là trúng luôn, người ta làm cùng lứa mà một ký ba tám bốn chục con, còn nhà con Mía làm một ký hai bảy hai tám con, nghe đâu vụ đầu trúng hơn ba trăm triệu. Con Mía mừng lắm, nó khoe suốt, chắc nhờ anh Hai con độ đó chú. Con giờ làm tôm riết có ca đâu, bữa nào chú Hai xuống chơi, vợ chồng con đãi rượu, ca cho chú nghe.

ừ, bữa nào chú Hai ghé, hén Mía, ghé uống rượu, nghe thằng chồng bây ca, biểu nó vô câu này, cho chú nghe “Hò ơ... (chớ) người ta giàu đầu heo nọng thịt / tụi mình nghèo cặp vịt đôi bông / sao mai mọc buổi hừng đông / ước sao nên vợ.... (ờ) / hò ơ... (chớ) ước sao nên vợ nên chồng thì thôi…”



Thứ Bảy, ngày 04 tháng 4 năm 2015

làm sao để tốt cho cả hai (2)


...
làm sao để tốt cho cả hai, làm sao đây, dĩ nhiên là chỉ có Ưng Hoàng Phúc mới biết, tui cũng hổng biết, nhưng mà chuyện kinh bang tế thế, chuyện năm châu bốn biển người ta đều biết, đều nói rào rào mà chuyện này hổng biết coi cũng kỳ, sẵn mấy bạn cứ inbox tâm sự, nên tui bấm bụng nói chơi, thấy đúng thì like thấy sai thì bỏ quá hen

chuyện vợ chồng có lẽ là chuyện khó nói nhứt trong thiên hạ, mà hễ nói là nói xấu thôi, hễ xấu mới nói, tui thấy vậy không được, bởi, mới hôm qua có bạn biên tập một tờ báo gọi tui nói, anh ơi giờ trang gia đình u ám quá, kỳ vại cà, gia đình đúng ra là chỗ lung linh nhứt, ấm áp nhứt, vui vẻ nhứt chớ… nói hồi cái bản mới kêu tui lên báo, mà dạo này tui được lên báo hoài, chắc do toàn khoe hình vợ con, chuyện mà mấy cha kia ít ai làm. Nói chuyện lên báo mới nói, tui được hỏi nhiều trong các lần phỏng vấn gần đây, và của mấy bạn inbox, là “hãy chia sẻ bí quyết để vợ chồng hạnh phúc”, tui luôn nói là bí quyết là “không có bí quyết”, vậy thôi, ủa, tui tưởng yêu nhau là hạnh phúc rồi chớ, sao cần có bí quyết gì nữa ta, chuyện vợ chồng mà có phải võ công kỳ bí gì đâu mà phải cần bí quyết chi trời

nhưng, đời luôn có chữ nhưng, nếu giả sử đời sống vợ chồng có chút gì không thuận, hoặc có gì đó không đúng, sao mình không đặt câu hỏi ngược lại, tại sao không hạnh phúc? Đúng ra mình xây dựng nên nó, mà giờ chưa có, thì phải coi tại sao, giống như xây CNXH vại. Ngồi lại, tìm kiếm lý do, hay cái chỗ rò chỗ rỉ, chỗ chưa được chưa đúng, để hàn gắn, để hoàn chỉnh nó, để sửa lại... chắc dễ hơn là đi tìm một thứ bí quyết hạnh phúc nào đó, mà tin tui đi, đời này không có thứ bí quyết đó đâu, đừng nghe bọn báo mạng nó bày, không có đâu.

có mấy lý do mà tui thấy người ta hay dễ đánh mất hạnh phúc của mình, kể nghe

- ghen tuông: ghen là yêu, nhưng mà yêu thì ít, mà ích kỷ mới nhiều, muốn chiếm hữu sở hữu nên mới ghen, cái này sai. Đừng nghĩ có thể trói buộc ai đó vào đời mình bằng cái vòng nho nhỏ đeo ở ngón áp út, không có đâu. Cái cần của hôn nhân là sự kết bạn, bạn đời mà, nên bạn bè phải tuyệt đối trung thành với nhau, tự nguyện và phi giới tính. Tui nghĩ các cặp vợ chồng hạnh phúc là khi họ kết bạn được với nhau

- tiền bạc: lý do hàng đầu, thầm kín nhưng cực kỳ nguy hiểm, của mọi sự đổ vỡ, từ bạn bè, làm ăn, gia đình… cho đến chuyện vợ chồng. Cái này khó, do tánh người thôi, phải học cách coi tiền bạc là phương tiện sống, phương tiện trao đổi hàng hóa, như vỏ sò vỏ hến thôi, đừng quá coi thường nó mà cũng đừng quá quan trọng nó, đừng bao giờ đặt nó lên trên một mối quan hệ, dù là với ai. Tui thấy mấy người coi nhẹ chuyện tiền bạc là hạnh phúc, dù không phải hạnh phúc gia đình thì họ cũng ung dung tự tại cả đời.

- sự xuống cấp, cái nài ghê nè, cái gì cũng xuống cấp hết, đền đài thành quách còn xuống cấp huống chi con người ta, xuống cấp về hình thể như bụng to ngực nhão đã thái ghê rồi, huống chi còn xuống cấp về tánh tình, xưa yêu nhao hào sảng lắm mà, sao giờ rít chịt vại cha, hay xưa lúc nào cũng muốn gần gụi quan tâm chăm sóc, giờ xa được ngày nào mừng ngày đó… cái này là tất yếu, là qui luật, không cưỡng được, không cố được, vậy thì đừng làm cho nó thành bi kịch. Ví vụ vợ chồng mà ngày nào cũng ăn tối với đèn cầy và hoa hồng coi sao được, cho nên cũng cần nhìn sự xuống cấp như một điều bình thường, chung sống và chia sẻ nó như một qui luật. Thực ra, tình yêu không xuống cấp, chỉ là biểu hiện bên ngoài của nó xuống thôi, cái nồng nàn mãnh liệt thủa xưa sẽ thay bằng cái ấm áp, trung thành sau này

vậy túm lợi là làm sao để tốt cho cả hai, trước tiên vẫn hỏi Ưng Hoàng Phúc, sau đó thì làm ngược lại, cái gì mình muốn người ta làm cho mình, hãy làm điều đó với đối tác, vậy mới bền, tui nghĩ vậy, hén, cuối tuần vui vẻ nha


Thứ Ba, ngày 24 tháng 3 năm 2015

Sài Gòn, một chuyện chép ở bịnh viện (2)

...
đau lưng, vô bịnh viện chụp phim, lúc bốc số ngồi chờ chụp phim mới thấy đẩy vô một chị đương nằm trên băng ca, băng một bên chưn trắng toát, trông chị đen đúa, ốm yếu và khắc khổ. Mới hỏi thăm, chị bị sao. Chị cười gượng gạo, có vẻ rất đau, bị xe máy đụng đó chú. Anh người nhà đi theo đẩy băng ca cho chị mới tiếp lời, bả bị xe máy chở hàng đụng, thằng đụng bả nó cũng bị gãy xe, bị thương tùm lum, bị bà này bả chạy qua đường ẩu, thằng nhỏ tránh hổng kịp, mà xe nó xe chở hàng, thắng cùi bắp nữa, thiệt xui hết biết, ông anh lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán

...
bà này bả bán café, bên nay đường có hàng cây mát, có vỉa hè thì bị trật tự không cho bán, bả chỉ để vài cái ghế mủ cho khách ngồi, còn bả để xe café ở hẻm bên kia đường, cứ có khách là bả phải chạy qua hỏi uống gì, rồi chạy về làm, rồi bưng qua, rồi qua tính tiền, dọn dẹp... ngày bả chạy băng qua băng lại con đường cầu tám chục giác, tui dặn là nhớ ngó trước ngó sau đi, coi chừng có bữa xe nó đụng, y như rằng, anh trai người nhà đi kèm lại chắc lưỡi, lắc đầu, trông anh cũng ốm, đen và khắc khổ y chang như chị.

lúc này vị bác sĩ chụp phim vẫn chưa tới, thấy anh kia chồm tới lắc tay chị, hỏi, bà còn đau không, sao uống thuốc nãy giờ chưa bớt. Chị cười như mếu, đau thấy mẹ, bộ thuốc tiên sao hết liền được, ông về trước đi, lát nhờ ai đẩy về cũng được, chờ đây chi. Anh loay hoay, hình như cũng muốn lui, vò vò cái mũ kết cũ mèm trong tay, quay qua nhìn tôi một lúc, rồi nói, thôi lỡ rồi, để tui ở đây với bà, chiều con Tí Hon đi học về nó chạy vô rồi tui về ăn cơm luôn

anh quay qua tôi, tiếp, cũng hên là có mấy chú nhân viên văn phòng hay uống café chỗ bả, rồi mấy nhà trong hẻm, mấy người buôn bán, gom người chút, góp được mấy triệu, đưa vô đây lo chi phí, mới yên tâm chụp phim, chớ nhà nghèo quá, bả còn không chịu vô bịnh viện sợ tốn tiền kìa. Nhà hả, hai đứa nhỏ một đứa mười lăm, đứa mười một, đều đang đi học, một mình bả bán café ngoài đường nuôi tụi nó, chưa kể tiền học hành, nhà trọ ... tá lả nữa, chồng chết cũng mấy năm rồi, khổ hết biết

tôi tròn mắt, nói vậy anh hổng phải chồng chỉ hả?

có đâu, tui chạy xe ôm gần chỗ bả thôi

bác sĩ chụp phim tới, cười nói oang oang, cầm xấp hồ sơ coi từng cái, rồi mặc kệ cả đống người đang chờ, anh bác sĩ quay ra phía sau mấy dãy ghế, tự tay đẩy cái băng ca của chị vô trước. Thấy anh xe ôm đứng lấp ló ở cửa, tay vò vò cái mũ kết, sẫm màu mồ hôi


Thứ Ba, ngày 17 tháng 3 năm 2015

bờ ân bân nặng rộn (2)...

...

1.
Elizabethtown là một phim hay, tôi đã coi nhiều lần, lần nào chiếu trên tình hình tôi cũng ngồi coi lại, và vẫn không ngớt xúc động. Tôi tìm thấy trong phim nhiều điều mình thích, thích nhất là cái cách thể hiện một nhân vật không có diễn viên, ông bố Mitch đã chết của Drew Baylor. Có nhiều ý kiến, bình luận về bộ phim này, nhưng không ai nhắc tới tình tiết đó, mà bỏ qua nó, là thiếu sót cực lớn của người xem, vì theo tôi, đó là một ẩn ý chủ đạo của kịch bản và đạo diễn.

Đoạn hay nhứt trong phim là đoạn bà vợ góa Hollie Baylor phát biểu và nhảy múa trong đám tang chồng mình (nhiều người review coi đoạn này là bà vợ vì quá đau khổ nên hóa điên, thật là một bọn thảm hại). Thực ra bà Hollie (do Susan Sarandon đóng, có ai biết bà này ở hành tinh nào xuống không, sao bả đóng vai nào là muốn quì lại bả vai đó), bà Hollie đã học được từ chồng mình tình yêu đời, yêu người rất lớn, một câu nói của bà mà tôi rất thích, trước khi kể chuyện cười và nhảy múa trong đám tang chồng, là “tôi phải học cách làm mình vui, phải rất lâu, rất lâu mới biết cách chắt lọc niềm vui từ cuộc đời”

2.
theo một thống kê không đầy đủ, nghe trên đài, thì hành tinh xanh của chúng ta có đến 12,000, mười hai ngàn loài thực vật cho trái, trong đó chỉ khoảng 400 loài cho trái ăn được, còn lại toàn trái độc, và bạn thử nghĩ coi, tổ tiên (có thể là từ lúc còn con khỉ) của chúng ta đã phải thử bao nhiêu lần, để tìm ra 400 loài trái đó, và họ đã chọn chúng để gieo trồng, để chăm bón, để thu nhiều trái hơn và truyền hạt giống cho chúng ta, đời này qua đời khác

niềm vui trên đời này nó như thứ trái ngon đó, trong hàng ngàn sự kiện của cuộc đời, chúng ta chọn ra niềm vui, nhân giống, gieo trồng và chăm bón chúng, đó là cách người ta vẫn làm. Thay vì kêu ca về nỗi buồn, lo lắng về vạn sự chưa hoàn hảo, chúng ta nên trồng một cái cây, cây gì mà chắc chắn sẽ cho ra trái ngọt. Thay vì khóc than cho nhân thế và phẫn nộ với cuộc đời, chúng ta nên mỉm cười, nụ cười là một bông hoa, rồi nó sẽ đơm trái, cũng ngọt

3.
(hơi nói lại) rất chán là khi kể một câu chuyện vui vui về tình người, kiểu trong Chuyện Nhỏ Sài Gòn, nhận mấy còm men về Sài Gòn cướp giựt, xô bồ, xì ke, lừa lọc… hay kiểu còm “tình người giờ còn đâu”, “chỉ có trong mơ”, “chuyện cổ tích giữa đời thường”… hoặc phi lý hơn nữa là nhơn đó kiếm cớ đổ vấy tội cho Cộng Sản. Nó giống như khi tôi mời bạn ăn một trái táo, bạn vẫn ăn, ăn xong bạn ngồi kể cho tôi nghe 11,000 loại trái cây có độc khác Biểu tượng cảm xúc smile , nó thừa rồi, tôi đâu phải ăn táo ngẫu nhiên, hay vì đói khát, tôi thích ăn loại trái cây ngon, và vui với điều đó, nên mới chia sẻ với bạn

4.
quay lại bài diễn văn vui vẻ của bà Hollie trong đám tang chồng ở Elizabethtown, ý bà là, tại sao chúng ta phải buồn, vì có mấy ai quan tâm là ông ấy đã chết, không ai thực sự quan tâm, niềm vui của ông ấy là cuộc sống của ông ấy, và chúng ta cũng vậy.

5.
ai đó nói quên rồi, đại ý là, đường xa đôi khi không phải tại chông gai mà tại vì hạt cát trong giày của bạn, sự âu lo và buồn bực như hạt cát trong giày mình, khó chịu lắm, bỏ đi. Kiếm trái gì ngòn ngọt mà ăn, ai biểu ăn sầu đâu rồi than đắng, phớ hôn?

Hình chụp ở chợ Ba Ngàn, Ngã Bảy, Hậu Giang 2013




Thứ Tư, ngày 04 tháng 2 năm 2015

Ba Xô lấy vợ,

Ba Xô lấy vợ,


Ba Xô tên giấy là Trần Văn Xô, hổng phải con thứ ba, mà do hồi xưa Ba Xô bị bịnh, đi chữa cháy cho một nhà trong xóm, đang cảm lại sặc khói, chạy ra phụ xách nước, xách đúng ba xô nước thì lăn ra xỉu, từ đó kêu bằng Ba Xô, chết tên. Bạn bè kêu Xô-Xích-Le, tức Xe Xích Lô, bị Ba Xô hành nghề đạp xích lô, đạp từ lâu lắm, từ thời trai trẻ tới giờ, có bị cấm một thời gian nhưng giờ cũng ra đạp lại.

Ba Xô có vợ, hổng biết tên con gái, cũng kêu bằng chị Ba Xô, chị Ba Xô vắn số mất sớm, sanh được đứa con gái mới đi lẫm chẫm thì chị mất. Ba Xô ở vậy đạp xích lô nuôi con gái lớn lên. Được cái con Gái nó cũng được má nó độ, lớn lên xinh đẹp, học hành tuy không giỏi nhưng cũng sáng dạ, năm nào cũng có giấy khen, lớp tám đã theo người ta buôn bán kiếm tiền phụ cha. Con Gái năm nay hai ba tuổi, coi như chị Ba đi đã chẵn hai chục năm, mà Ba Xô không đi bước nữa, cũng không hề bồ bịch trai gái, chỉ lo đạp xích lô nuôi con Gái.

năm nọ xích lô bị cấm, Ba Xô ở nhà riết cũng quỡn, mới theo người ta tụ tập nhậu nhẹt, rồi bị bịnh, cũng nặng, nằm viện chừng ba tháng. Thời gian nằm viện thiệt khó khăn, mớ thì tiền thuốc, tiền viện phí, rồi con Gái phải ra vô chăm sóc, bà con cô bác cũng có giúp mà hổng thấm bao nhiêu. Con Gái phải chạy làm thêm, rồi ra trước cổng bịnh viện xếp hàng lấy cơm miễn phí của hội từ thiện ăn qua ngày. Đến bữa khỏi bịnh thì còn thiếu bịnh viện đâu chục triệu, con Gái chạy vạy khắp nơi mà chưa lo được tiền, nó lén ra ngoài sân ngồi khóc miết. Tự nhiên bữa sau bịnh viện thông báo là viện phí có người trả rồi, một người hảo tâm nào đó, không để lại danh tánh, cha con Ba Xô mừng chảy nước mắt.

lúc hết cấm xích lô, Ba Xô là người đầu tiên chuộc xe chạy lại, lúc này con Gái cũng làm có tiền, khách du lịch nhiều mà xích lô thì ít hơn trước nên Ba Xô chạy cũng khá, mỗi ngày đều kiếm một hai trăm ngon lành. Ba Xô chạy bao nhiêu không cần biết, mỗi ngày đều bỏ ống vài ba chục ngàn, ít thì hai chục, nhiều thì năm chục, một hai tuần kêu con Gái gom lại, có khi được vài trăm, một triệu, triệu mấy, đem hết tới góp vô quĩ cơm từ thiện, giúp bịnh nhân nghèo. Khen anh thiệt tình nghĩa quá, Ba Xô cười, tình nghĩa gì đâu chú Hai, mình có ơn phải trả, người ta giúp mình, mình giúp người khác, có ít giúp ít, có nhiều giúp nhiều, đời này không trả, kiếp sau cũng phải trả hà, tui nói vậy phải hôn chú Hai. Ờ, phải đó anh Ba.

Con Gái là một đứa con xinh đẹp và hiếu thảo, trời thương, nó cao ráo giống Ba Xô, lại xinh đẹp tốt tánh như má nói, bởi vậy trai theo hàng đàn, mà mấy năm nó nhứt quyết không yêu đương, lo làm ăn, đi bán ở shop đó chú Hai, rồi làm hội chợ, làm đủ thứ ai mướn gì làm đó, miễn đường hoàng mà có tiền. Buổi tối nó đi học thêm tiếng Anh thôi. Nó nói đời nó nó chỉ yêu Ba Xô, Xô-Xích-Le của nó. Con người ta, có cha đạp xích lô hay làm lao động chưn tay thì thường mắc cỡ, còn con Gái không có nha, nó tự hào lắm, lúc nào cũng khoe ba nó đạp xích lô, chụp hình ba nó chở nó trên chiếc xích lô, khoe trên mạng đó chú Hai, Ba Xô cười hỉ hả.

Năm kia con Gái quen một thằng Mỹ, cũng trọng trọng, ngoài ba chục rồi, thằng này làm kỹ sư, qua đây làm việc chớ hổng phải dân du lịch ba lô, hai đứa có về trình bày với Ba Xô, dĩ nhiên Ba Xô gật đầu cái rụp. Tụi nó cũng lẹ, quen đâu chừng mấy tháng thì thằng kia hỏi cưới, Ba Xô gật tiếp, nhưng mà con Gái nó hổng chịu gật, dứt khoát hổng chịu. Con Gái nói, lấy chồng rồi con theo ảnh đi Mỹ, Xô ở với ai, ai lo cơm nước, ai thuốc thang rau cháo lúc trở trời, ai nói chuyện với Xô. Con Gái nói quen chơi thôi, nếu có lấy chồng nó phải ở chung với Ba Xô mới chịu, chú Hai thấy đời thủa con gái nhà ai kỳ cục vậy chưa?

Cái trời đất xui đâu đó, bữa trưa đó Ba Xô thấy bà bán trái cây kia bị xỉu gần chợ Dân Sinh, mới xuống đỡ dậy, xức dầu, rồi chở bả về nhà trọ, bên quận tư. Bà này quê Bình Định, theo người ta vô Sài Gòn bán trái cây dạo, bữa đó nắng quá mà bả đang cảm nên xỉu giữa đường. Nào giờ tui có biết xứ Bình Định nó nằm đâu chú Hai, người gì đâu mà nói cái tiếng khó nghe muốn chết, bả nói chữ “dờ quơ” mà một tháng sau tui mới hiểu đó chú Hai. Đó rồi coi như ông Trời định, bà này chồng chết, hai đứa con, cũng cỡ con Gái, đương làm công nhân đâu dưới Bình Dương, quen một hồi thấy cũng hạp, thôi xáp lại cho con Gái nó yên tâm đi lấy chồng.

Đám cưới con Gái, đàng trai bên Mỹ qua gần chục người, tía má thằng kia với bạn bè tùm lum, Ba Xô tính chạy đi mượn nhà người quen làm cái lễ cho đường hoàng, con Gái nó cản, nó nói mình sao để vậy đi Xô, nếu ảnh thương con thì ảnh thương, còn mà ảnh có khinh con nghèo thì con bỏ về ở với Xô, sợ gì. Bữa đó chưa rước bà “quơ” Bình Định về, nên chỉ có Ba Xô với gì Út con Gái đứng ra gả cưới. Cưới xong cả nhà kéo nhau đi Phan Thiết, Đà Lạt chơi mười mấy bữa luôn. Bữa nay qua Mỹ lâu rồi, mới đẻ rồi, con gái luôn, coi như tui làm ông ngoại rồi đó chú Hai, Ba Xô cười, lại hỉ hả.

Ba Xô rước bà sau về, dặn rõ, coi như rổ rá cạp lại, già rồi hổng có cưới hỏi chi hết trơn nha, chỉ nấu mâm cơm, cúng má con Gái, Ba Xô thắp nhang nói, mình ôi, cho tôi đi bước nữa, tuổi già có người nương tựa bè bạn, cho con Gái nó yên tâm lấy chồng xa, nha mình, vậy thôi. Hỏi Tết này có chạy hông anh Ba, Ba Xô cười lớn, hông có, mơi mốt đây nghỉ rồi, đi “dờ quơ” Bình Định chơi, chú Hai



Sài Gòn, món nợ bảy cây vàng



Sài Gòn, món nợ bảy cây vàng

...

bà Hai là người gốc Bắc, quê Nam Định, là người Bắc Năm Tư, bà theo gia đình vô Sài Gòn thời đó sớm, gia đình lại khéo mần ăn buôn bán ở chợ nên cũng khá giả, bà lấy chồng đã có tài sản là căn nhà với mảnh đất lớn, nằm mặt tiền một con đường cũng tương đối lớn. Mấy năm bao cấp nhà bà cũng chỉ ở thôi, không dùng mặt tiền nhà làm gì, bị bà thấy cho thuê thì không bao nhiêu tiền mà phiền phức. Sau này, xe cộ Sài Gòn nhiều dần, ở mặt tiền bà thấy cũng ồn ào thiệt, bà mới đồng ý cho vợ chồng ông Bảy mướn làm lò bánh mì.

ông Bảy quê gốc Sài Gòn, là lính chế độ cũ, sau năm 75 lưu lạc mãi, gia đình ly tán, vợ con thì về miền tây làm ruộng còn ông thì phải đi cải tạo. Khi về lại Sài Gòn vợ chồng cũng làm đủ nghề, cuối cùng chọn quay lại làm nghề bánh mì gia truyền. Lò bánh mì của ông Bảy là lò thủ công, nên nóng nực và ồn, nhưng được cái bánh mì ngon, bánh mì loại bự thiệt bự, nóng giòn và thơm lừng mùi bơ mà bà con đi xe đò hay mua làm quà cho sắp nhỏ dưới quê, bán nhiều trên những cần xé ở Hàng Xanh, hay bến xe Miền Đông, Miền Tây. Vợ chồng ông bà Bảy với nhà Bà Hai tuy là chỗ mướn nhà nhưng sống với nhau tình cảm, dần dần cũng như chị em trong nhà, chuyện gì cũng chạy qua chạy lại, tình thương mến thương.

...
làm ăn được mấy năm, buôn bán khấm khá, nhà ông bà Bảy dư tiền, mới xin mua của bà Hai một phần mặt tiền căn nhà mà mình đang mướn. Năm đó là năm một chín chín hai, thời đó giá nhà Sài Gòn rẻ lắm, miếng đất căn nhà của bà Hai ngang tám dài ba chục thước, cắt phân nửa phía trước mặt tiền, chỉ chừa lối đi hơn một mét để đi ra nhà sau, bán cho vợ chồng nhà ông Bảy, giá hai mươi bảy cây vàng, một cái giá quá không rẻ mà cũng không quá mắc, thời đó.

chuyện là vợ chồng nhà Bảy tuy có dư nhưng chỉ gom được hai chục cây, còn thiếu bảy cây vàng, vợ chồng mới xin nợ lại bà Hai, ít bữa kiếm tiền trả tiếp. Bị lúc đó không ai nghĩ chuyện gì lớn nên bà Hai cứ ký giấy bán, giấy bán cũng ghi rõ là tiền đã trả hết, còn chuyện thiếu lại bảy cây vàng chỉ là nói miệng với nhau, không có ghi giấy, thời đó người ta tin nhau.

...
nhưng rồi đời mà, nhiều chuyện xảy ra, đầu tiên là ông Bảy bịnh chết đột ngột, bà Bảy quá đau buồn nên cũng không ham buôn bán nữa, bà suốt ngày ngồi trước bàn thờ ông, chuyện buôn bán giao lại cho cô con gái, cô này cũng còn đang tuổi ăn tuổi học tuổi yêu đương, nên không mặn mà lắm, ai cũng lơ là cái lò bánh mì đã giúp mình kiếm tiền, rồi các lò bánh mì khác mọc lên như nấm, lò điện, sản xuất nhanh, bánh ngon đều, giá rẻ… cạnh tranh khốc liệt hơn, làm cái lò bánh mì nhà bà Bảy càng lúc càng ế ẩm, chỉ buôn bán cầm chừng. Lúc này thi thoảng bà Hai có nhắc món nợ bảy cây vàng, nhưng bà Bảy không trả nổi, ăn còn thiếu trước hụt sau mà, lấy gì trả, bà Hai thấy vậy thôi cũng không nhắc nữa, quay qua an ủi bà Bảy.

bà Hai người kính Chúa, bà Bảy lại là Phật tử, nhưng mà chồng chết, các con cũng lớn cả nên ra vô sớm tối đều đi với nhau, thậm chí hai bà rủ nhau cùng đi nhà thờ chung lễ, cùng đi chùa dâng hương làm công quả, chẳng nệ tôn giáo gì.

...
sau có chuyện là anh con trai lớn của Bà Hai mới ra làm ăn sao đó, bị thua lỗ, còn suýt vướng vô vòng lao lý vì nghe đâu nợ người ta mấy tỉ bạc. Anh này chạy về khóc kể, năn nỉ mẹ bán nhà trả nợ, bà Hai tuy bình thường không mấy chiều con nhưng đến nước này, thương con thương cháu, bà đành đứt ruột ký giấy bán căn nhà thân thương. Lúc bán nhà thì bà Bảy có qua ngăn cản lắm, bà nói, tui thiệt là giờ bảy cây vàng tui cũng không có trả bà, nhưng bán căn nhà thì uổng quá. Bà Hai cười mà nước mắt chảy dài, nói, thôi món nợ đó của tôi với bà bỏ đi, có đáng bao nhiêu đâu, mình sống nay chết mai, chỉ là sống ít ngày cho con cho cháu thôi, bà ạ. Căn nhà phía sau, lối đi nhỏ nên bán chỉ được có bốn tỉ mấy, vừa đủ cho ông con trai trả một phần món nợ, còn cả gia đình nhà bà Hai ba thế hệ phải dắt díu nhau đi ra đường, lên tận Gò Vấp thuê một căn nhà cấp bốn ở tạm.

...

bà Hai đi mấy hôm thì một bữa nọ bà Bảy ngủ dậy, tươi tỉnh hẳn, bà ra thắp nhang cho ông Bảy, rồi cũng đi rao bán nhà. Căn nhà bà Bảy mặt tiền nên bán được hơn bốn trăm cây. Tiền bán đất bà Bảy chia cho con gái, con trai mỗi đứa một trăm cây gửi vô ngân hàng, sau này muốn làm gì thì làm. Còn phần còn lại bà lên Gò Vấp mua miếng đất lớn, xây hai căn nhà cũng lớn, có sân trước sân sau, hai căn giống y hệt nhau, bà ở một căn, căn kia mời gia đình bà Hai về ở. Bà Bảy nói, ngày xưa bảy cây vàng là một phần tư căn nhà, tính ra nó tương đương với gần một trăm cây bây giờ, nay tôi trả bà cả vốn lẫn lời, bằng cái nhà mới nầy. Cả nhà bà Hai mừng như sống dậy, khóc cười cười khóc.

...
bữa tân gia hai cái nhà mới, mời bà con cô bác ở xóm cũ lên chơi, ai cũng mừng cho bà Hai bà Bảy có nhà mới, lên đây rộng rãi yên tĩnh, hai bà lại có dịp gần nhau, sớm tối có nhau. Nhiều người không biết câu chuyện về món nợ bảy cây vàng, cứ thắc mắc là sao hai cái nhà giống hệt nhau vậy cà, nghe vậy bà Bảy cười, bị tánh tui giống tánh bả, nên làm nhà cũng giống nhau, chớ có gì đâu.

Thứ Ba, ngày 20 tháng 1 năm 2015

Miến Điện, hành trình những chuyến xe đêm (3)

Coi lại:
Phần 2

Phần 3: lộng lẫy hoàng hôn Mandalay

...
buổi tối, chúng tôi lên cái xe bus nhỏ, kiểu xe 12 chỗ ngồi, nhưng chỉ có 4 khách, chúng tôi và hai phụ nữ khác, xe chạy khá nhanh, hầu như không dừng. Chúng tôi đi theo một con đường tắt, men theo bờ sông, qua những làng mạc nhỏ, những cánh đồng bạt ngàn thốt nốt, những núi đồi hoang vu, vậy mà cũng qua đến 6 trạm thu phí, đa số chỉ là những cây tre bắc ngang đường, nhân viên thu phí mặc longyi và nhai trầu, ra tận cửa xe, đưa vé nhận tiền bằng hai tay

 ở Miến Điện, chuyện ngồi trên mui xe hay đu bám tòng teng sau xe là chuyện thường ngày


xe đưa tới khách sạn Smart ở Mandalay, một khách sạn mới, nhân viên ai cũng dễ thương, có anh porter tranh thủ lúc chờ làm thủ tục để giới thiệu cho tôi các điểm thăm quan thành phố bằng tiếng Anh giọng Ấn, nghe tiếng được tiếng mất, nhưng phục sự nhiệt thành của anh. Anh này tên Ann, làm porter ở đây và ở một khách sạn khác, lương của anh khoảng 80USD/tháng cho mỗi job, nhưng số tiền mà khách cho dĩ nhiên là cũng tương đương, anh nhận ra rằng khách châu Á hay cho tiền hơn khách Âu Mỹ, có lẽ vì chúng ta cùng là người Á Châu, Ann nghĩ vậy. Ann đang kiếm tiền và tranh thủ học thêm tiếng Anh để có thể mua một chiếc xe và chạy taxi du lịch, anh và vợ đến Mandalay từ một ngôi làng nghèo khổ cách đó 200 dặm, anh làm nhiều việc và hầu như chỉ chi tiêu cho cuộc sống, còn lại là tiết kiệm, tiết kiệm đến mức chưa dám sinh con.

chúng tôi ăn tối qua loa ở một nhà hàng Ý gần đó, tôi gọi cái Ham và mấy ly wisky, cho dễ ngủ. Hôm sau chúng tôi dậy sớm, điện thoại cho anh taxi quen và quyết định sẽ đi một vòng 4 ngôi làng cổ, mà người Mandalay thường gọi là “4 cities”, dịch đúng phải là “thành”, gọi là làng nhưng ở mỗi nơi này đều có thành trì, từng là thủ phủ của một vì vua nào đó, từ cách đây mấy trăm năm. Tour này hầu như ai tới Mandalay cũng đều đi, nhưng đa số là đi 3 cities, vì cái thành xa nhứt, mà cũng đẹp nhứt và có quả chuông lớn nhứt, là thành Mingun, nó lại nằm hơi trái đường.




trước khi ra khỏi thành phố, chúng tôi ghé thăm một tu viện nhỏ, nhưng có tuổi đời cổ xưa nhứt vùng này, toàn bộ tu viện cũng được làm bằng gỗ tếch và được chạm trổ tinh vi, nét chạm hầu như là các họa tiết 3D khá độc đáo, đặc trưng của người Miến.

tôi chỉ kể sơ tour “bốn thành” này cùng với hình ảnh, vì cơ bản cũng chỉ là những ngôi chùa, những tu viện cổ xưa, những đoàn nhà sư, xe ngựa và cổ tháp. Trong 4 thành này tôi chỉ đặc biệt thích Mingun, vì nó mà tôi lặn lội tới Mandalay này, tôi đến bởi ngôi đền bốn mặt khổng lồ, điêu tàn nhưng kiêu hãnh đứng bên sông Ayeyarwady, tôi đến chỉ để đứng bên cạnh nó, sờ tay vào từng khối gạch cũ, rồi về.




ngoài đền Mingun, tôi còn đến một ngôi chùa khác, chỉ xuôi theo dòng sông một đoạn, chùa này theo kiến trúc mới, màu trắng, cũng khá đẹp và ấn tượng


sau thành Mingun là đồi Sagaing, nơi được coi là trung tâm Phật giáo, với hơn 600 ngôi chùa, tu viện, trong đó có cả một trường Phật Giáo rất lớn, từ đỉnh đồi Sagaing đưa mắt nhìn ra bốn hướng chỉ toàn chùa, những ngôi chùa với bảo tháp vàng chóe, nổi bật giữa màu nâu nhạt bạch thếch của cánh đồng hai bên bờ sông, chùa nối nhau triền miên




chúng tôi bỏ qua một thành, chỉ ghé ăn trưa và vào thành Inwha, Inhwa là một thành cổ, như kiểu thành Huế của ta, có lẽ vì giờ đây nó chỉ còn là một làng quê nghèo nàn nên mọi thứ còn nguyên hiện trạng, tường cao hào sâu tháp canh và vọng gác, với nhiều tu viện và chùa cổ nằm lẫn giữa những cánh đồng lúa mới cấy. Thành nằm bên kia sông, muốn đến phải đi đò qua, rồi thuê xe ngựa đi một vòng. Đường đẹp, cảnh đẹp, người dân ở thành này đa số đều nghèo nhưng khá thân thiện và mọi thứ đều có giá tiền rõ ràng, rất tiện cho du khách, đời sống ở đây gần như còn khá thiên nhiên hơn những chỗ khác











Và cuối của điểm hành trình này, dĩ nhiên là cầu Ubein, cây cầu gỗ tếch được coi là dài nhứt thế giới có tuổi đời hơn 200 năm bắc qua sông Taungthamna, hầu như các đoàn khách du lịch khác đến Mandalay đều đi cùng một tour như vậy, nhưng chỉ một phần trong số du khách chờ đón coi hoàng hôn trên cầu, bởi nơi đây cũng được coi là điểm ngắm hoàng hôn đẹp nhứt thế giới. 






Chúng tôi đến Ubein hơi sớm nên tha hồ lang thang chờ hoàng hôn, câu cầu đẹp thiệt, nhưng có vẻ chánh quyền ở đây không quản lý kỹ nên tình trạng buôn bán hai đầu cầu và rác thải là một điểm trừ của nơi này, còn lại phong cảnh thì tuyệt vời. Tôi cứ đi theo những người ngư phủ câu cá trên sông Taungthamna mà bấm máy, mải chơi quên mất việc thuê một chiếc thuyền để ra giữa sông săn ảnh hoàng hôn, đành đứng ở bãi bồi giữa dòng sông bấm máy, và đó đúng là một hoàng hôn lộng lẫy nhứt tôi từng chứng kiến.






Ánh mặt trời lặn qua bờ sông phía bên kia cầu, phản chiếu ánh nước và chiếu thẳng vào cây cầu, làm cho nó như một thước phim âm bản được chiếu bởi ánh sáng chỉ một tông màu rực đỏ, khó có thể diễn tả hết bằng lời nếu bạn không tận mắt chứng kiến điều này.

...
Bị ám ảnh bởi vẻ đẹp của cây cầu gỗ Ubein nên áng hôm sau chúng tôi không đi trong một số chùa trong nội ô Mandalay như dự định mà quyết định quay lại Ubein, một phần để ngắm lại cây cầu và chụp thêm ảnh đời sống của người dân làng bên kia sông, một phần để ghé tu viện Mahagandayon gần đó, mục kích cảnh đi ăn sáng của hàng ngàn nhà sư. 







Tu viện Mahagandayon là một quần thể lớn, với nhiều công trình và là nơi học tập sinh sống của một ngàn tăng sư, cảnh đi ăn sáng lúc 10 giờ của giới tăng ni ở tu viện này cũng là một cảnh tượng hiếm hoi trên thế giới, đáng tiếc là dù được nhắc nhở, các đoàn du khách, đặc biệt là khách Trung Quốc, vẫn làm náo động không gian, vốn trật tự và yên tĩnh của tu viện.


có điều này mà chúng tôi hết sức ngạc nhiên khi chứng kiến bữa ăn của các nhà sư ở đây, và cả Miến Điện nói chung, họ ăn thịt, thịt heo kho như chúng ta hằng ngày vẫn ăn, lúc mới nhìn tôi còn trầm trồ, đồ chay mà người ta làm miếng thịt y như thiệt luôn cà, hóa ra là thịt thiệt, chuyện này được giải thích dài dòng, tuy nhiên, tôi vẫn không thể quen được.





Chúng tôi quay lại cầu gỗ và mục kích nhiều cảnh tượng đẹp, hai đứa ngồi xem nguyên một trận đấu bóng (thuộc một giải đấu nào đó, vì có cả trọng tài chính, trọng tài biên, giám sát...) ngay trên bãi bồi dòng sông Taungthamna, giữa một đội các nhà sư trẻ và một đội các bạn trẻ khác. Đội nhà sư gần như là đá trên sân nhà vì có hàng trăm tăng sư của tu viện Mahagandayon gần đó ra cổ động rất nhiệt thành, 



Kết cục là đội các nhà sư thắng, tuy nhiên cách họ thắng không đẹp, lúc cuối giờ, khi đã dẫn bàn, các nhà sư toàn đá bóng ra ngoài, thậm chí đá thẳng ra sông để câu giờ, việc này còn được các sư cổ động tung hê nhiệt liệt, mặc cho đội bóng đối phương nỗ lực tìm bàn hòa, có thể việc nhà sư ăn thịt đã làm họ hoàn toàn chưa thoát tục chăng?

Buổi chiều, chúng tôi đi thăm Hoàng Cung, vài ngôi chùa, tu viện cổ và dự sẽ ngắm hoàng hôn trên đồi Mandalay. Hoàng Cung Mandalay còn khá mới, một phần nó cũng mới được xây dựng và gần đây được trùng tu khá lớn, nhưng chắc là do kinh phí, việc trùng tu lại khá sơ sài, với tường gạch nhũ vàng, mái tôn sơn đỏ, mất vẻ cổ kính cần có của một tử cấm thành uy nghiêm, dù vẫn có thành cao hào sâu, vọng lâu và các công trình cũ, nhưng tất cả có vẻ là một bản sao vụng về của những gì nó đã từng. Toàn bộ khu vực hoàng thành hiện nay do quân đội kiểm soát, và du khách chỉ được vào xem khu tử cấm thành, chúng tôi rất muốn đi ra ngoài, nơi các công trình bị bỏ hoang phế hơn, nhưng tiếc là điều đó không được phép, nếu không nói là khá nguy hiểm.




Chúng tôi sau đó ghé thăm ngôi chùa Kuthodaw Paya, nơi 729 có bảo tháp tàng trữ bộ kinh Phật chạm khắc trên đá cẩm thạch được coi là lớn nhứt thế giới, gần bên đó là tu viện Shwenandaw, một tu viện có tuổi đời hơn 300 năm, được làm hoàn toàn bằng gỗ tếch, kín đầy những điêu khắc trên gỗ cực kỳ tinh xảo

mỗi cái bảo tháp này lưu giữ một trang kinh Phật, có gần cả ngàn cái như vậy






Sau một hành trình dài trên cái gốc ngược lên đồi Mandalay, chúng tôi nghĩ chắc cảnh hoàng hôn sẽ đẹp, nhưng tôi sớm nhận ra mình không có tiền cảnh đẹp như trên cầu Ubein, nên tôi quay xuống và quyết định sẽ chụp cảnh hoàng hôn ở hoàng thành, từ bên kia con hào, bên tường lũy và vọng lâu, như vậy có vẻ đẹp hơn, quả nhiên tôi đúng. 



Anh tài xế chở chúng tôi đi suốt hai ngày tên là Didi, anh nầy từng có 13 năm làm Bartender bên Mã Lai nên nói tiếng Anh khá tốt, vui vẻ, nhiệt thành và hiểu biết. Didi đẹp trai, chưa có vợ vì lo chăm sóc cha già, thực ra anh từng có bạn gái, nhưng sau khi anh vừa đi qua Mã Lai thì cô gái đi lấy chồng, anh từ đó thành kẻ thất tình. Didi dự kiến sẽ kiếm đủ tiền để mua một chiếc xe mới cho riêng mình mới tính tới chuyện vợ con. Sau bữa tối ở khách sạn, chúng tôi ra bến xe đón xe buýt đi thị trấn Nyaung Shwe, nơi có hồ Inle nổi tiếng, tạm biệt cố đô Mandalay với ánh hoàng hôn lộng lẫy trên cầu Ubein.

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...