Thứ Ba, ngày 24 tháng 3 năm 2015

Sài Gòn, một chuyện chép ở bịnh viện (2)

...
đau lưng, vô bịnh viện chụp phim, lúc bốc số ngồi chờ chụp phim mới thấy đẩy vô một chị đương nằm trên băng ca, băng một bên chưn trắng toát, trông chị đen đúa, ốm yếu và khắc khổ. Mới hỏi thăm, chị bị sao. Chị cười gượng gạo, có vẻ rất đau, bị xe máy đụng đó chú. Anh người nhà đi theo đẩy băng ca cho chị mới tiếp lời, bả bị xe máy chở hàng đụng, thằng đụng bả nó cũng bị gãy xe, bị thương tùm lum, bị bà này bả chạy qua đường ẩu, thằng nhỏ tránh hổng kịp, mà xe nó xe chở hàng, thắng cùi bắp nữa, thiệt xui hết biết, ông anh lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán

...
bà này bả bán café, bên nay đường có hàng cây mát, có vỉa hè thì bị trật tự không cho bán, bả chỉ để vài cái ghế mủ cho khách ngồi, còn bả để xe café ở hẻm bên kia đường, cứ có khách là bả phải chạy qua hỏi uống gì, rồi chạy về làm, rồi bưng qua, rồi qua tính tiền, dọn dẹp... ngày bả chạy băng qua băng lại con đường cầu tám chục giác, tui dặn là nhớ ngó trước ngó sau đi, coi chừng có bữa xe nó đụng, y như rằng, anh trai người nhà đi kèm lại chắc lưỡi, lắc đầu, trông anh cũng ốm, đen và khắc khổ y chang như chị.

lúc này vị bác sĩ chụp phim vẫn chưa tới, thấy anh kia chồm tới lắc tay chị, hỏi, bà còn đau không, sao uống thuốc nãy giờ chưa bớt. Chị cười như mếu, đau thấy mẹ, bộ thuốc tiên sao hết liền được, ông về trước đi, lát nhờ ai đẩy về cũng được, chờ đây chi. Anh loay hoay, hình như cũng muốn lui, vò vò cái mũ kết cũ mèm trong tay, quay qua nhìn tôi một lúc, rồi nói, thôi lỡ rồi, để tui ở đây với bà, chiều con Tí Hon đi học về nó chạy vô rồi tui về ăn cơm luôn

anh quay qua tôi, tiếp, cũng hên là có mấy chú nhân viên văn phòng hay uống café chỗ bả, rồi mấy nhà trong hẻm, mấy người buôn bán, gom người chút, góp được mấy triệu, đưa vô đây lo chi phí, mới yên tâm chụp phim, chớ nhà nghèo quá, bả còn không chịu vô bịnh viện sợ tốn tiền kìa. Nhà hả, hai đứa nhỏ một đứa mười lăm, đứa mười một, đều đang đi học, một mình bả bán café ngoài đường nuôi tụi nó, chưa kể tiền học hành, nhà trọ ... tá lả nữa, chồng chết cũng mấy năm rồi, khổ hết biết

tôi tròn mắt, nói vậy anh hổng phải chồng chỉ hả?

có đâu, tui chạy xe ôm gần chỗ bả thôi

bác sĩ chụp phim tới, cười nói oang oang, cầm xấp hồ sơ coi từng cái, rồi mặc kệ cả đống người đang chờ, anh bác sĩ quay ra phía sau mấy dãy ghế, tự tay đẩy cái băng ca của chị vô trước. Thấy anh xe ôm đứng lấp ló ở cửa, tay vò vò cái mũ kết, sẫm màu mồ hôi


Thứ Ba, ngày 17 tháng 3 năm 2015

bờ ân bân nặng rộn (2)...

...

1.
Elizabethtown là một phim hay, tôi đã coi nhiều lần, lần nào chiếu trên tình hình tôi cũng ngồi coi lại, và vẫn không ngớt xúc động. Tôi tìm thấy trong phim nhiều điều mình thích, thích nhất là cái cách thể hiện một nhân vật không có diễn viên, ông bố Mitch đã chết của Drew Baylor. Có nhiều ý kiến, bình luận về bộ phim này, nhưng không ai nhắc tới tình tiết đó, mà bỏ qua nó, là thiếu sót cực lớn của người xem, vì theo tôi, đó là một ẩn ý chủ đạo của kịch bản và đạo diễn.

Đoạn hay nhứt trong phim là đoạn bà vợ góa Hollie Baylor phát biểu và nhảy múa trong đám tang chồng mình (nhiều người review coi đoạn này là bà vợ vì quá đau khổ nên hóa điên, thật là một bọn thảm hại). Thực ra bà Hollie (do Susan Sarandon đóng, có ai biết bà này ở hành tinh nào xuống không, sao bả đóng vai nào là muốn quì lại bả vai đó), bà Hollie đã học được từ chồng mình tình yêu đời, yêu người rất lớn, một câu nói của bà mà tôi rất thích, trước khi kể chuyện cười và nhảy múa trong đám tang chồng, là “tôi phải học cách làm mình vui, phải rất lâu, rất lâu mới biết cách chắt lọc niềm vui từ cuộc đời”

2.
theo một thống kê không đầy đủ, nghe trên đài, thì hành tinh xanh của chúng ta có đến 12,000, mười hai ngàn loài thực vật cho trái, trong đó chỉ khoảng 400 loài cho trái ăn được, còn lại toàn trái độc, và bạn thử nghĩ coi, tổ tiên (có thể là từ lúc còn con khỉ) của chúng ta đã phải thử bao nhiêu lần, để tìm ra 400 loài trái đó, và họ đã chọn chúng để gieo trồng, để chăm bón, để thu nhiều trái hơn và truyền hạt giống cho chúng ta, đời này qua đời khác

niềm vui trên đời này nó như thứ trái ngon đó, trong hàng ngàn sự kiện của cuộc đời, chúng ta chọn ra niềm vui, nhân giống, gieo trồng và chăm bón chúng, đó là cách người ta vẫn làm. Thay vì kêu ca về nỗi buồn, lo lắng về vạn sự chưa hoàn hảo, chúng ta nên trồng một cái cây, cây gì mà chắc chắn sẽ cho ra trái ngọt. Thay vì khóc than cho nhân thế và phẫn nộ với cuộc đời, chúng ta nên mỉm cười, nụ cười là một bông hoa, rồi nó sẽ đơm trái, cũng ngọt

3.
(hơi nói lại) rất chán là khi kể một câu chuyện vui vui về tình người, kiểu trong Chuyện Nhỏ Sài Gòn, nhận mấy còm men về Sài Gòn cướp giựt, xô bồ, xì ke, lừa lọc… hay kiểu còm “tình người giờ còn đâu”, “chỉ có trong mơ”, “chuyện cổ tích giữa đời thường”… hoặc phi lý hơn nữa là nhơn đó kiếm cớ đổ vấy tội cho Cộng Sản. Nó giống như khi tôi mời bạn ăn một trái táo, bạn vẫn ăn, ăn xong bạn ngồi kể cho tôi nghe 11,000 loại trái cây có độc khác Biểu tượng cảm xúc smile , nó thừa rồi, tôi đâu phải ăn táo ngẫu nhiên, hay vì đói khát, tôi thích ăn loại trái cây ngon, và vui với điều đó, nên mới chia sẻ với bạn

4.
quay lại bài diễn văn vui vẻ của bà Hollie trong đám tang chồng ở Elizabethtown, ý bà là, tại sao chúng ta phải buồn, vì có mấy ai quan tâm là ông ấy đã chết, không ai thực sự quan tâm, niềm vui của ông ấy là cuộc sống của ông ấy, và chúng ta cũng vậy.

5.
ai đó nói quên rồi, đại ý là, đường xa đôi khi không phải tại chông gai mà tại vì hạt cát trong giày của bạn, sự âu lo và buồn bực như hạt cát trong giày mình, khó chịu lắm, bỏ đi. Kiếm trái gì ngòn ngọt mà ăn, ai biểu ăn sầu đâu rồi than đắng, phớ hôn?

Hình chụp ở chợ Ba Ngàn, Ngã Bảy, Hậu Giang 2013




Thứ Tư, ngày 04 tháng 2 năm 2015

Ba Xô lấy vợ,

Ba Xô lấy vợ,


Ba Xô tên giấy là Trần Văn Xô, hổng phải con thứ ba, mà do hồi xưa Ba Xô bị bịnh, đi chữa cháy cho một nhà trong xóm, đang cảm lại sặc khói, chạy ra phụ xách nước, xách đúng ba xô nước thì lăn ra xỉu, từ đó kêu bằng Ba Xô, chết tên. Bạn bè kêu Xô-Xích-Le, tức Xe Xích Lô, bị Ba Xô hành nghề đạp xích lô, đạp từ lâu lắm, từ thời trai trẻ tới giờ, có bị cấm một thời gian nhưng giờ cũng ra đạp lại.

Ba Xô có vợ, hổng biết tên con gái, cũng kêu bằng chị Ba Xô, chị Ba Xô vắn số mất sớm, sanh được đứa con gái mới đi lẫm chẫm thì chị mất. Ba Xô ở vậy đạp xích lô nuôi con gái lớn lên. Được cái con Gái nó cũng được má nó độ, lớn lên xinh đẹp, học hành tuy không giỏi nhưng cũng sáng dạ, năm nào cũng có giấy khen, lớp tám đã theo người ta buôn bán kiếm tiền phụ cha. Con Gái năm nay hai ba tuổi, coi như chị Ba đi đã chẵn hai chục năm, mà Ba Xô không đi bước nữa, cũng không hề bồ bịch trai gái, chỉ lo đạp xích lô nuôi con Gái.

năm nọ xích lô bị cấm, Ba Xô ở nhà riết cũng quỡn, mới theo người ta tụ tập nhậu nhẹt, rồi bị bịnh, cũng nặng, nằm viện chừng ba tháng. Thời gian nằm viện thiệt khó khăn, mớ thì tiền thuốc, tiền viện phí, rồi con Gái phải ra vô chăm sóc, bà con cô bác cũng có giúp mà hổng thấm bao nhiêu. Con Gái phải chạy làm thêm, rồi ra trước cổng bịnh viện xếp hàng lấy cơm miễn phí của hội từ thiện ăn qua ngày. Đến bữa khỏi bịnh thì còn thiếu bịnh viện đâu chục triệu, con Gái chạy vạy khắp nơi mà chưa lo được tiền, nó lén ra ngoài sân ngồi khóc miết. Tự nhiên bữa sau bịnh viện thông báo là viện phí có người trả rồi, một người hảo tâm nào đó, không để lại danh tánh, cha con Ba Xô mừng chảy nước mắt.

lúc hết cấm xích lô, Ba Xô là người đầu tiên chuộc xe chạy lại, lúc này con Gái cũng làm có tiền, khách du lịch nhiều mà xích lô thì ít hơn trước nên Ba Xô chạy cũng khá, mỗi ngày đều kiếm một hai trăm ngon lành. Ba Xô chạy bao nhiêu không cần biết, mỗi ngày đều bỏ ống vài ba chục ngàn, ít thì hai chục, nhiều thì năm chục, một hai tuần kêu con Gái gom lại, có khi được vài trăm, một triệu, triệu mấy, đem hết tới góp vô quĩ cơm từ thiện, giúp bịnh nhân nghèo. Khen anh thiệt tình nghĩa quá, Ba Xô cười, tình nghĩa gì đâu chú Hai, mình có ơn phải trả, người ta giúp mình, mình giúp người khác, có ít giúp ít, có nhiều giúp nhiều, đời này không trả, kiếp sau cũng phải trả hà, tui nói vậy phải hôn chú Hai. Ờ, phải đó anh Ba.

Con Gái là một đứa con xinh đẹp và hiếu thảo, trời thương, nó cao ráo giống Ba Xô, lại xinh đẹp tốt tánh như má nói, bởi vậy trai theo hàng đàn, mà mấy năm nó nhứt quyết không yêu đương, lo làm ăn, đi bán ở shop đó chú Hai, rồi làm hội chợ, làm đủ thứ ai mướn gì làm đó, miễn đường hoàng mà có tiền. Buổi tối nó đi học thêm tiếng Anh thôi. Nó nói đời nó nó chỉ yêu Ba Xô, Xô-Xích-Le của nó. Con người ta, có cha đạp xích lô hay làm lao động chưn tay thì thường mắc cỡ, còn con Gái không có nha, nó tự hào lắm, lúc nào cũng khoe ba nó đạp xích lô, chụp hình ba nó chở nó trên chiếc xích lô, khoe trên mạng đó chú Hai, Ba Xô cười hỉ hả.

Năm kia con Gái quen một thằng Mỹ, cũng trọng trọng, ngoài ba chục rồi, thằng này làm kỹ sư, qua đây làm việc chớ hổng phải dân du lịch ba lô, hai đứa có về trình bày với Ba Xô, dĩ nhiên Ba Xô gật đầu cái rụp. Tụi nó cũng lẹ, quen đâu chừng mấy tháng thì thằng kia hỏi cưới, Ba Xô gật tiếp, nhưng mà con Gái nó hổng chịu gật, dứt khoát hổng chịu. Con Gái nói, lấy chồng rồi con theo ảnh đi Mỹ, Xô ở với ai, ai lo cơm nước, ai thuốc thang rau cháo lúc trở trời, ai nói chuyện với Xô. Con Gái nói quen chơi thôi, nếu có lấy chồng nó phải ở chung với Ba Xô mới chịu, chú Hai thấy đời thủa con gái nhà ai kỳ cục vậy chưa?

Cái trời đất xui đâu đó, bữa trưa đó Ba Xô thấy bà bán trái cây kia bị xỉu gần chợ Dân Sinh, mới xuống đỡ dậy, xức dầu, rồi chở bả về nhà trọ, bên quận tư. Bà này quê Bình Định, theo người ta vô Sài Gòn bán trái cây dạo, bữa đó nắng quá mà bả đang cảm nên xỉu giữa đường. Nào giờ tui có biết xứ Bình Định nó nằm đâu chú Hai, người gì đâu mà nói cái tiếng khó nghe muốn chết, bả nói chữ “dờ quơ” mà một tháng sau tui mới hiểu đó chú Hai. Đó rồi coi như ông Trời định, bà này chồng chết, hai đứa con, cũng cỡ con Gái, đương làm công nhân đâu dưới Bình Dương, quen một hồi thấy cũng hạp, thôi xáp lại cho con Gái nó yên tâm đi lấy chồng.

Đám cưới con Gái, đàng trai bên Mỹ qua gần chục người, tía má thằng kia với bạn bè tùm lum, Ba Xô tính chạy đi mượn nhà người quen làm cái lễ cho đường hoàng, con Gái nó cản, nó nói mình sao để vậy đi Xô, nếu ảnh thương con thì ảnh thương, còn mà ảnh có khinh con nghèo thì con bỏ về ở với Xô, sợ gì. Bữa đó chưa rước bà “quơ” Bình Định về, nên chỉ có Ba Xô với gì Út con Gái đứng ra gả cưới. Cưới xong cả nhà kéo nhau đi Phan Thiết, Đà Lạt chơi mười mấy bữa luôn. Bữa nay qua Mỹ lâu rồi, mới đẻ rồi, con gái luôn, coi như tui làm ông ngoại rồi đó chú Hai, Ba Xô cười, lại hỉ hả.

Ba Xô rước bà sau về, dặn rõ, coi như rổ rá cạp lại, già rồi hổng có cưới hỏi chi hết trơn nha, chỉ nấu mâm cơm, cúng má con Gái, Ba Xô thắp nhang nói, mình ôi, cho tôi đi bước nữa, tuổi già có người nương tựa bè bạn, cho con Gái nó yên tâm lấy chồng xa, nha mình, vậy thôi. Hỏi Tết này có chạy hông anh Ba, Ba Xô cười lớn, hông có, mơi mốt đây nghỉ rồi, đi “dờ quơ” Bình Định chơi, chú Hai



Sài Gòn, món nợ bảy cây vàng



Sài Gòn, món nợ bảy cây vàng

...

bà Hai là người gốc Bắc, quê Nam Định, là người Bắc Năm Tư, bà theo gia đình vô Sài Gòn thời đó sớm, gia đình lại khéo mần ăn buôn bán ở chợ nên cũng khá giả, bà lấy chồng đã có tài sản là căn nhà với mảnh đất lớn, nằm mặt tiền một con đường cũng tương đối lớn. Mấy năm bao cấp nhà bà cũng chỉ ở thôi, không dùng mặt tiền nhà làm gì, bị bà thấy cho thuê thì không bao nhiêu tiền mà phiền phức. Sau này, xe cộ Sài Gòn nhiều dần, ở mặt tiền bà thấy cũng ồn ào thiệt, bà mới đồng ý cho vợ chồng ông Bảy mướn làm lò bánh mì.

ông Bảy quê gốc Sài Gòn, là lính chế độ cũ, sau năm 75 lưu lạc mãi, gia đình ly tán, vợ con thì về miền tây làm ruộng còn ông thì phải đi cải tạo. Khi về lại Sài Gòn vợ chồng cũng làm đủ nghề, cuối cùng chọn quay lại làm nghề bánh mì gia truyền. Lò bánh mì của ông Bảy là lò thủ công, nên nóng nực và ồn, nhưng được cái bánh mì ngon, bánh mì loại bự thiệt bự, nóng giòn và thơm lừng mùi bơ mà bà con đi xe đò hay mua làm quà cho sắp nhỏ dưới quê, bán nhiều trên những cần xé ở Hàng Xanh, hay bến xe Miền Đông, Miền Tây. Vợ chồng ông bà Bảy với nhà Bà Hai tuy là chỗ mướn nhà nhưng sống với nhau tình cảm, dần dần cũng như chị em trong nhà, chuyện gì cũng chạy qua chạy lại, tình thương mến thương.

...
làm ăn được mấy năm, buôn bán khấm khá, nhà ông bà Bảy dư tiền, mới xin mua của bà Hai một phần mặt tiền căn nhà mà mình đang mướn. Năm đó là năm một chín chín hai, thời đó giá nhà Sài Gòn rẻ lắm, miếng đất căn nhà của bà Hai ngang tám dài ba chục thước, cắt phân nửa phía trước mặt tiền, chỉ chừa lối đi hơn một mét để đi ra nhà sau, bán cho vợ chồng nhà ông Bảy, giá hai mươi bảy cây vàng, một cái giá quá không rẻ mà cũng không quá mắc, thời đó.

chuyện là vợ chồng nhà Bảy tuy có dư nhưng chỉ gom được hai chục cây, còn thiếu bảy cây vàng, vợ chồng mới xin nợ lại bà Hai, ít bữa kiếm tiền trả tiếp. Bị lúc đó không ai nghĩ chuyện gì lớn nên bà Hai cứ ký giấy bán, giấy bán cũng ghi rõ là tiền đã trả hết, còn chuyện thiếu lại bảy cây vàng chỉ là nói miệng với nhau, không có ghi giấy, thời đó người ta tin nhau.

...
nhưng rồi đời mà, nhiều chuyện xảy ra, đầu tiên là ông Bảy bịnh chết đột ngột, bà Bảy quá đau buồn nên cũng không ham buôn bán nữa, bà suốt ngày ngồi trước bàn thờ ông, chuyện buôn bán giao lại cho cô con gái, cô này cũng còn đang tuổi ăn tuổi học tuổi yêu đương, nên không mặn mà lắm, ai cũng lơ là cái lò bánh mì đã giúp mình kiếm tiền, rồi các lò bánh mì khác mọc lên như nấm, lò điện, sản xuất nhanh, bánh ngon đều, giá rẻ… cạnh tranh khốc liệt hơn, làm cái lò bánh mì nhà bà Bảy càng lúc càng ế ẩm, chỉ buôn bán cầm chừng. Lúc này thi thoảng bà Hai có nhắc món nợ bảy cây vàng, nhưng bà Bảy không trả nổi, ăn còn thiếu trước hụt sau mà, lấy gì trả, bà Hai thấy vậy thôi cũng không nhắc nữa, quay qua an ủi bà Bảy.

bà Hai người kính Chúa, bà Bảy lại là Phật tử, nhưng mà chồng chết, các con cũng lớn cả nên ra vô sớm tối đều đi với nhau, thậm chí hai bà rủ nhau cùng đi nhà thờ chung lễ, cùng đi chùa dâng hương làm công quả, chẳng nệ tôn giáo gì.

...
sau có chuyện là anh con trai lớn của Bà Hai mới ra làm ăn sao đó, bị thua lỗ, còn suýt vướng vô vòng lao lý vì nghe đâu nợ người ta mấy tỉ bạc. Anh này chạy về khóc kể, năn nỉ mẹ bán nhà trả nợ, bà Hai tuy bình thường không mấy chiều con nhưng đến nước này, thương con thương cháu, bà đành đứt ruột ký giấy bán căn nhà thân thương. Lúc bán nhà thì bà Bảy có qua ngăn cản lắm, bà nói, tui thiệt là giờ bảy cây vàng tui cũng không có trả bà, nhưng bán căn nhà thì uổng quá. Bà Hai cười mà nước mắt chảy dài, nói, thôi món nợ đó của tôi với bà bỏ đi, có đáng bao nhiêu đâu, mình sống nay chết mai, chỉ là sống ít ngày cho con cho cháu thôi, bà ạ. Căn nhà phía sau, lối đi nhỏ nên bán chỉ được có bốn tỉ mấy, vừa đủ cho ông con trai trả một phần món nợ, còn cả gia đình nhà bà Hai ba thế hệ phải dắt díu nhau đi ra đường, lên tận Gò Vấp thuê một căn nhà cấp bốn ở tạm.

...

bà Hai đi mấy hôm thì một bữa nọ bà Bảy ngủ dậy, tươi tỉnh hẳn, bà ra thắp nhang cho ông Bảy, rồi cũng đi rao bán nhà. Căn nhà bà Bảy mặt tiền nên bán được hơn bốn trăm cây. Tiền bán đất bà Bảy chia cho con gái, con trai mỗi đứa một trăm cây gửi vô ngân hàng, sau này muốn làm gì thì làm. Còn phần còn lại bà lên Gò Vấp mua miếng đất lớn, xây hai căn nhà cũng lớn, có sân trước sân sau, hai căn giống y hệt nhau, bà ở một căn, căn kia mời gia đình bà Hai về ở. Bà Bảy nói, ngày xưa bảy cây vàng là một phần tư căn nhà, tính ra nó tương đương với gần một trăm cây bây giờ, nay tôi trả bà cả vốn lẫn lời, bằng cái nhà mới nầy. Cả nhà bà Hai mừng như sống dậy, khóc cười cười khóc.

...
bữa tân gia hai cái nhà mới, mời bà con cô bác ở xóm cũ lên chơi, ai cũng mừng cho bà Hai bà Bảy có nhà mới, lên đây rộng rãi yên tĩnh, hai bà lại có dịp gần nhau, sớm tối có nhau. Nhiều người không biết câu chuyện về món nợ bảy cây vàng, cứ thắc mắc là sao hai cái nhà giống hệt nhau vậy cà, nghe vậy bà Bảy cười, bị tánh tui giống tánh bả, nên làm nhà cũng giống nhau, chớ có gì đâu.

Thứ Ba, ngày 20 tháng 1 năm 2015

Miến Điện, hành trình những chuyến xe đêm (3)

Coi lại:
Phần 2

Phần 3: lộng lẫy hoàng hôn Mandalay

...
buổi tối, chúng tôi lên cái xe bus nhỏ, kiểu xe 12 chỗ ngồi, nhưng chỉ có 4 khách, chúng tôi và hai phụ nữ khác, xe chạy khá nhanh, hầu như không dừng. Chúng tôi đi theo một con đường tắt, men theo bờ sông, qua những làng mạc nhỏ, những cánh đồng bạt ngàn thốt nốt, những núi đồi hoang vu, vậy mà cũng qua đến 6 trạm thu phí, đa số chỉ là những cây tre bắc ngang đường, nhân viên thu phí mặc longyi và nhai trầu, ra tận cửa xe, đưa vé nhận tiền bằng hai tay

 ở Miến Điện, chuyện ngồi trên mui xe hay đu bám tòng teng sau xe là chuyện thường ngày


xe đưa tới khách sạn Smart ở Mandalay, một khách sạn mới, nhân viên ai cũng dễ thương, có anh porter tranh thủ lúc chờ làm thủ tục để giới thiệu cho tôi các điểm thăm quan thành phố bằng tiếng Anh giọng Ấn, nghe tiếng được tiếng mất, nhưng phục sự nhiệt thành của anh. Anh này tên Ann, làm porter ở đây và ở một khách sạn khác, lương của anh khoảng 80USD/tháng cho mỗi job, nhưng số tiền mà khách cho dĩ nhiên là cũng tương đương, anh nhận ra rằng khách châu Á hay cho tiền hơn khách Âu Mỹ, có lẽ vì chúng ta cùng là người Á Châu, Ann nghĩ vậy. Ann đang kiếm tiền và tranh thủ học thêm tiếng Anh để có thể mua một chiếc xe và chạy taxi du lịch, anh và vợ đến Mandalay từ một ngôi làng nghèo khổ cách đó 200 dặm, anh làm nhiều việc và hầu như chỉ chi tiêu cho cuộc sống, còn lại là tiết kiệm, tiết kiệm đến mức chưa dám sinh con.

chúng tôi ăn tối qua loa ở một nhà hàng Ý gần đó, tôi gọi cái Ham và mấy ly wisky, cho dễ ngủ. Hôm sau chúng tôi dậy sớm, điện thoại cho anh taxi quen và quyết định sẽ đi một vòng 4 ngôi làng cổ, mà người Mandalay thường gọi là “4 cities”, dịch đúng phải là “thành”, gọi là làng nhưng ở mỗi nơi này đều có thành trì, từng là thủ phủ của một vì vua nào đó, từ cách đây mấy trăm năm. Tour này hầu như ai tới Mandalay cũng đều đi, nhưng đa số là đi 3 cities, vì cái thành xa nhứt, mà cũng đẹp nhứt và có quả chuông lớn nhứt, là thành Mingun, nó lại nằm hơi trái đường.




trước khi ra khỏi thành phố, chúng tôi ghé thăm một tu viện nhỏ, nhưng có tuổi đời cổ xưa nhứt vùng này, toàn bộ tu viện cũng được làm bằng gỗ tếch và được chạm trổ tinh vi, nét chạm hầu như là các họa tiết 3D khá độc đáo, đặc trưng của người Miến.

tôi chỉ kể sơ tour “bốn thành” này cùng với hình ảnh, vì cơ bản cũng chỉ là những ngôi chùa, những tu viện cổ xưa, những đoàn nhà sư, xe ngựa và cổ tháp. Trong 4 thành này tôi chỉ đặc biệt thích Mingun, vì nó mà tôi lặn lội tới Mandalay này, tôi đến bởi ngôi đền bốn mặt khổng lồ, điêu tàn nhưng kiêu hãnh đứng bên sông Ayeyarwady, tôi đến chỉ để đứng bên cạnh nó, sờ tay vào từng khối gạch cũ, rồi về.




ngoài đền Mingun, tôi còn đến một ngôi chùa khác, chỉ xuôi theo dòng sông một đoạn, chùa này theo kiến trúc mới, màu trắng, cũng khá đẹp và ấn tượng


sau thành Mingun là đồi Sagaing, nơi được coi là trung tâm Phật giáo, với hơn 600 ngôi chùa, tu viện, trong đó có cả một trường Phật Giáo rất lớn, từ đỉnh đồi Sagaing đưa mắt nhìn ra bốn hướng chỉ toàn chùa, những ngôi chùa với bảo tháp vàng chóe, nổi bật giữa màu nâu nhạt bạch thếch của cánh đồng hai bên bờ sông, chùa nối nhau triền miên




chúng tôi bỏ qua một thành, chỉ ghé ăn trưa và vào thành Inwha, Inhwa là một thành cổ, như kiểu thành Huế của ta, có lẽ vì giờ đây nó chỉ còn là một làng quê nghèo nàn nên mọi thứ còn nguyên hiện trạng, tường cao hào sâu tháp canh và vọng gác, với nhiều tu viện và chùa cổ nằm lẫn giữa những cánh đồng lúa mới cấy. Thành nằm bên kia sông, muốn đến phải đi đò qua, rồi thuê xe ngựa đi một vòng. Đường đẹp, cảnh đẹp, người dân ở thành này đa số đều nghèo nhưng khá thân thiện và mọi thứ đều có giá tiền rõ ràng, rất tiện cho du khách, đời sống ở đây gần như còn khá thiên nhiên hơn những chỗ khác











Và cuối của điểm hành trình này, dĩ nhiên là cầu Ubein, cây cầu gỗ tếch được coi là dài nhứt thế giới có tuổi đời hơn 200 năm bắc qua sông Taungthamna, hầu như các đoàn khách du lịch khác đến Mandalay đều đi cùng một tour như vậy, nhưng chỉ một phần trong số du khách chờ đón coi hoàng hôn trên cầu, bởi nơi đây cũng được coi là điểm ngắm hoàng hôn đẹp nhứt thế giới. 






Chúng tôi đến Ubein hơi sớm nên tha hồ lang thang chờ hoàng hôn, câu cầu đẹp thiệt, nhưng có vẻ chánh quyền ở đây không quản lý kỹ nên tình trạng buôn bán hai đầu cầu và rác thải là một điểm trừ của nơi này, còn lại phong cảnh thì tuyệt vời. Tôi cứ đi theo những người ngư phủ câu cá trên sông Taungthamna mà bấm máy, mải chơi quên mất việc thuê một chiếc thuyền để ra giữa sông săn ảnh hoàng hôn, đành đứng ở bãi bồi giữa dòng sông bấm máy, và đó đúng là một hoàng hôn lộng lẫy nhứt tôi từng chứng kiến.






Ánh mặt trời lặn qua bờ sông phía bên kia cầu, phản chiếu ánh nước và chiếu thẳng vào cây cầu, làm cho nó như một thước phim âm bản được chiếu bởi ánh sáng chỉ một tông màu rực đỏ, khó có thể diễn tả hết bằng lời nếu bạn không tận mắt chứng kiến điều này.

...
Bị ám ảnh bởi vẻ đẹp của cây cầu gỗ Ubein nên áng hôm sau chúng tôi không đi trong một số chùa trong nội ô Mandalay như dự định mà quyết định quay lại Ubein, một phần để ngắm lại cây cầu và chụp thêm ảnh đời sống của người dân làng bên kia sông, một phần để ghé tu viện Mahagandayon gần đó, mục kích cảnh đi ăn sáng của hàng ngàn nhà sư. 







Tu viện Mahagandayon là một quần thể lớn, với nhiều công trình và là nơi học tập sinh sống của một ngàn tăng sư, cảnh đi ăn sáng lúc 10 giờ của giới tăng ni ở tu viện này cũng là một cảnh tượng hiếm hoi trên thế giới, đáng tiếc là dù được nhắc nhở, các đoàn du khách, đặc biệt là khách Trung Quốc, vẫn làm náo động không gian, vốn trật tự và yên tĩnh của tu viện.


có điều này mà chúng tôi hết sức ngạc nhiên khi chứng kiến bữa ăn của các nhà sư ở đây, và cả Miến Điện nói chung, họ ăn thịt, thịt heo kho như chúng ta hằng ngày vẫn ăn, lúc mới nhìn tôi còn trầm trồ, đồ chay mà người ta làm miếng thịt y như thiệt luôn cà, hóa ra là thịt thiệt, chuyện này được giải thích dài dòng, tuy nhiên, tôi vẫn không thể quen được.





Chúng tôi quay lại cầu gỗ và mục kích nhiều cảnh tượng đẹp, hai đứa ngồi xem nguyên một trận đấu bóng (thuộc một giải đấu nào đó, vì có cả trọng tài chính, trọng tài biên, giám sát...) ngay trên bãi bồi dòng sông Taungthamna, giữa một đội các nhà sư trẻ và một đội các bạn trẻ khác. Đội nhà sư gần như là đá trên sân nhà vì có hàng trăm tăng sư của tu viện Mahagandayon gần đó ra cổ động rất nhiệt thành, 



Kết cục là đội các nhà sư thắng, tuy nhiên cách họ thắng không đẹp, lúc cuối giờ, khi đã dẫn bàn, các nhà sư toàn đá bóng ra ngoài, thậm chí đá thẳng ra sông để câu giờ, việc này còn được các sư cổ động tung hê nhiệt liệt, mặc cho đội bóng đối phương nỗ lực tìm bàn hòa, có thể việc nhà sư ăn thịt đã làm họ hoàn toàn chưa thoát tục chăng?

Buổi chiều, chúng tôi đi thăm Hoàng Cung, vài ngôi chùa, tu viện cổ và dự sẽ ngắm hoàng hôn trên đồi Mandalay. Hoàng Cung Mandalay còn khá mới, một phần nó cũng mới được xây dựng và gần đây được trùng tu khá lớn, nhưng chắc là do kinh phí, việc trùng tu lại khá sơ sài, với tường gạch nhũ vàng, mái tôn sơn đỏ, mất vẻ cổ kính cần có của một tử cấm thành uy nghiêm, dù vẫn có thành cao hào sâu, vọng lâu và các công trình cũ, nhưng tất cả có vẻ là một bản sao vụng về của những gì nó đã từng. Toàn bộ khu vực hoàng thành hiện nay do quân đội kiểm soát, và du khách chỉ được vào xem khu tử cấm thành, chúng tôi rất muốn đi ra ngoài, nơi các công trình bị bỏ hoang phế hơn, nhưng tiếc là điều đó không được phép, nếu không nói là khá nguy hiểm.




Chúng tôi sau đó ghé thăm ngôi chùa Kuthodaw Paya, nơi 729 có bảo tháp tàng trữ bộ kinh Phật chạm khắc trên đá cẩm thạch được coi là lớn nhứt thế giới, gần bên đó là tu viện Shwenandaw, một tu viện có tuổi đời hơn 300 năm, được làm hoàn toàn bằng gỗ tếch, kín đầy những điêu khắc trên gỗ cực kỳ tinh xảo

mỗi cái bảo tháp này lưu giữ một trang kinh Phật, có gần cả ngàn cái như vậy






Sau một hành trình dài trên cái gốc ngược lên đồi Mandalay, chúng tôi nghĩ chắc cảnh hoàng hôn sẽ đẹp, nhưng tôi sớm nhận ra mình không có tiền cảnh đẹp như trên cầu Ubein, nên tôi quay xuống và quyết định sẽ chụp cảnh hoàng hôn ở hoàng thành, từ bên kia con hào, bên tường lũy và vọng lâu, như vậy có vẻ đẹp hơn, quả nhiên tôi đúng. 



Anh tài xế chở chúng tôi đi suốt hai ngày tên là Didi, anh nầy từng có 13 năm làm Bartender bên Mã Lai nên nói tiếng Anh khá tốt, vui vẻ, nhiệt thành và hiểu biết. Didi đẹp trai, chưa có vợ vì lo chăm sóc cha già, thực ra anh từng có bạn gái, nhưng sau khi anh vừa đi qua Mã Lai thì cô gái đi lấy chồng, anh từ đó thành kẻ thất tình. Didi dự kiến sẽ kiếm đủ tiền để mua một chiếc xe mới cho riêng mình mới tính tới chuyện vợ con. Sau bữa tối ở khách sạn, chúng tôi ra bến xe đón xe buýt đi thị trấn Nyaung Shwe, nơi có hồ Inle nổi tiếng, tạm biệt cố đô Mandalay với ánh hoàng hôn lộng lẫy trên cầu Ubein.

LinkWithin

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...